Hạnh phúc từ một đám cưới đặc biệt

Tổ ấm của bà Chung và ông Đức được xây từ một đám cưới không có chú rể. Dù mang trong mình thương tật và nhiễm chất độc da cam, hai chiến sĩ cách mạng vẫn bền bỉ vun đắp hạnh phúc hơn nửa thế kỷ bằng tình yêu và sự thấu hiểu của những người chung lý tưởng.

Đám cưới không có... chú rể

Trong không khí tri ân của những ngày tháng 7 và hướng tới kỷ niệm 65 năm Thảm họa da cam ở Việt Nam (10-8-1961 - 10-8-2026), căn nhà nhỏ của bà Võ Thị Kim Chung (74 tuổi, phường Đông Hòa, TPHCM) luôn rộn rã tiếng cười của khách đến thăm.

Họ bày tỏ lòng ngưỡng mộ trước ý chí kiên trung của những chiến sĩ cách mạng, đồng thời cảm phục nghị lực phi thường của người phụ nữ dù mang di chứng da cam vẫn trọn vẹn tình yêu với cuộc đời. Cùng san sẻ những hy sinh ấy là chồng bà - ông Nguyễn Tiến Đức, 76 tuổi, thương binh 2/4.

CN9a.jpg
Bà Chung (giữa) trò chuyện cùng cán bộ Hội LHPN phường Đông Hòa đến thăm nhân kỷ niệm 79 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (ẢNH: TRANG NGUYỄN)

Khi chỉ mới 14 tuổi, mang trong mình lòng yêu nước và ý chí quật cường của vùng đất cách mạng Giồng Trôm, bà Chung tham gia Đội Võ trang tuyên truyền nội ô, sau đó được giao nhiệm vụ rải truyền đơn phục vụ chiến dịch Mậu Thân (1968). Vóc dáng nhỏ bé, gương mặt ngây thơ và sự nhanh trí, nhiều lần bà giấu truyền đơn trong người để qua mắt địch.

Một lần, bà cùng 2 chị đi rải truyền đơn và ném lựu đạn thì bị bắt. Giữa lằn ranh sinh tử, 3 chị em đã nhanh trí bịa ra câu chuyện đi tìm chồng, còn bà Chung chỉ là đứa trẻ đi theo chơi. Sau nhiều lần tra khảo không tìm được chứng cứ, bà được thả.

Năm 16 tuổi, bà Chung được giao nhiệm vụ làm công tác cơ yếu. Giữa mưa bom bão đạn, nữ chiến sĩ trẻ giữ trọn lời tuyên thệ, bảo vệ bí mật của tổ chức bằng cả tính mạng. Trong thời gian hoạt động cách mạng, bà không may bị nhiễm chất độc da cam và mang nhiều thương tật.

Chỉ 18 ngày trước thời khắc lịch sử giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, qua sự vun vén của gia đình, bà Chung nên duyên vợ chồng cùng ông Đức. Khi ấy, ông cũng là chiến sĩ cách mạng kiên trung, từng bị địch bắt, đày đọa nơi “địa ngục trần gian” Côn Đảo. Những trận đòn thù tàn bạo nơi ngục tối đã để lại trên thân thể ông vô số thương tật.

Dù đến với nhau qua sự mai mối, cả hai đều mang trên mình những vết hằn, nỗi đau của chiến tranh, nhưng chính sự đồng điệu của hai trái tim chung một lý tưởng cách mạng đã giúp họ sớm hòa chung nhịp đập, gắn bó son sắt đến tận hôm nay.

Nhớ lại ngày cưới, bà Chung xúc động kể: “Đó là một đám cưới rất đặc biệt, không có chú rể. Đúng ngày cưới, ổng đi làm nhiệm vụ nên chỉ có chị chồng và gia đình qua đón cô dâu”.

Hơn nửa thế kỷ giữ lửa hạnh phúc

Hòa bình lập lại, bà Chung chuyển sang công tác trong ngành giáo dục, còn ông Đức nhận nhiệm vụ tại Ban Nông nghiệp tỉnh. Những năm tháng sau chiến tranh muôn vàn gian khó, dù phải vất vả làm việc, tăng gia sản xuất và lo cho tổ ấm nhỏ, ngọn lửa hiếu học trong bà Chung chưa bao giờ tắt. Nhờ nỗ lực không ngừng nghỉ, năm 1996, bà vinh dự được ngành cử đi học cao học.

Đằng sau thành quả đáng tự hào ấy là sự hy sinh thầm lặng của ông Đức. Người cựu binh năm xưa đã tự nguyện lui về làm hậu phương vững chắc, gánh vác việc nhà và chăm sóc các con để vợ toàn tâm toàn ý theo đuổi con đường tri thức. Năm 2009, trong một lần khám sức khỏe và thực hiện các xét nghiệm chuyên sâu, bà Chung được xác định nhiễm chất độc da cam.

Từ ngày nhận kết quả, nỗi ám ảnh về thứ chất độc quái ác khiến cả nhà luôn sống trong thấp thỏm, nơm nớp lo sợ di chứng sẽ truyền sang thế hệ sau. Thế nhưng, như một phép màu, sau nhiều lần đưa các con, cháu đi kiểm tra, gia đình vỡ òa hạnh phúc khi biết tất cả đều hoàn toàn khỏe mạnh, không mang di chứng của chiến tranh.

Đi qua hơn nửa thế kỷ gắn bó, hôn nhân của ông bà dẫu êm đềm nhưng cũng như bao nếp nhà khác, khó tránh khỏi những lúc “bát đũa xô lệch”. Thế nhưng, họ chưa từng để ngọn lửa giận hờn bùng lên quá lâu. Mỗi khi xảy ra bất đồng, cả hai chọn khoảng lặng để tự soi chiếu lại mình, trước khi cùng ngồi lại tháo gỡ. Lấy nhường nhịn làm nền tảng, lấy bao dung và thấu hiểu làm rường cột, mái ấm ấy cứ thế vững chãi suốt mấy mươi năm.

Không chỉ là một người vợ tinh tế, trong vai trò người mẹ, bà Chung luôn chọn cách khéo léo định hướng thay vì áp đặt hay can thiệp sâu vào đời tư của các con. Bằng vốn sống và tình yêu thương, bà rủ rỉ dạy con cháu về đạo làm người, về chữ hiếu.

Bà thường dạy các con rằng: “Người hy sinh cho mình nhiều nhất lại thường là người dễ bị mình làm tổn thương nhất - đó chính là cha mẹ”. Lời dạy ấy đã trở thành hành trang tinh thần, giúp các con luôn khắc cốt ghi tâm và dành trọn lòng kính yêu với cha mẹ.

Nhiều năm trước, bà Chung chuyển đến phường Đông Hòa, TPHCM sinh sống để được cận kề con cháu. Hơn nửa thế kỷ dắt tay nhau bước qua những khúc quanh nghiệt ngã nhất của đạn bom và di chứng da cam, đôi vợ chồng cựu chiến binh giờ đây đang tận hưởng vị ngọt của sự bình yên. Bà Chung tìm thấy niềm vui bên ly cà phê sáng cùng những người bạn già và công tác tại Hội Phụ nữ khu phố.

Trong khi đó, ông Đức nặng lòng với xóm làng nên chọn gắn bó nhiều hơn với quê nhà, thi thoảng lại lên TPHCM đoàn tụ cùng vợ con. Những lúc ông bà sum vầy, khách ghé thăm luôn cảm nhận được một không khí gia đình vô cùng ấm áp.

Hình ảnh người cựu tù Côn Đảo kiên trung năm nào nay quây quần bên con cháu, cùng người vợ hiền từ tận hưởng nếp sống tuổi già giản đơn có lẽ là cái kết đẹp và trọn vẹn nhất cho chuyện tình hơn nửa thế kỷ khởi đầu bằng một đám cưới độc đáo.

Tin cùng chuyên mục