Hãy để âm nhạc là phương tiện hội nhập

Ngoài hội nghị toàn thể hai năm một lần, Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế (ICTM) hàng năm còn tổ chức các hội thảo chuyên đề ở các nước thành viên. Lần đầu tiên, Viện Âm nhạc đăng cai tổ chức hội thảo (19 đến 30-7-2010) với hơn 80 đại biểu của hơn 30 quốc gia, gần 80 tham luận theo hai nhóm chuyên đề: âm nhạc dân tộc thiểu số và âm nhạc dân tộc học ứng dụng.

Ngoài hội nghị toàn thể hai năm một lần, Hội đồng Âm nhạc truyền thống quốc tế (ICTM) hàng năm còn tổ chức các hội thảo chuyên đề ở các nước thành viên. Lần đầu tiên, Viện Âm nhạc đăng cai tổ chức hội thảo (19 đến 30-7-2010) với hơn 80 đại biểu của hơn 30 quốc gia, gần 80 tham luận theo hai nhóm chuyên đề: âm nhạc dân tộc thiểu số và âm nhạc dân tộc học ứng dụng.

Các nhà khoa học đã mang đến hội thảo nhiều thí dụ sống động từ khắp các châu lục về vai trò của âm nhạc trong việc duy trì giá trị văn hóa của các dân tộc thiểu số.

Thiểu số ở đây được hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là những dân tộc ít người trong một quốc gia đa dân tộc, mà còn bao gồm cả những cộng đồng lưu vong trong quốc gia “chủ nhà”, cả những quốc gia nhỏ trước các cường quốc có nền văn hóa thống trị thế giới. Như vậy sự liên hệ với Việt Nam không giới hạn ở các dân tộc thiểu số, mà còn có thể đối chiếu với âm nhạc của cộng đồng người Việt ở hải ngoại, với vị thế Việt Nam trên diễn đàn âm nhạc quốc tế.

Thiểu số thường gắn với thế yếu và bị lấn lướt bởi thế lực mạnh hơn. Để tránh nguy cơ bị gạt ra ngoài rìa, thiểu số phải duy trì được tính bền vững của bản sắc văn hóa riêng trong cuộc đối thoại bình đẳng giữa các truyền thống khác nhau. Chính âm nhạc đem lại sự tự tin cho cộng đồng thiểu số. Âm nhạc tạo nên sự nổi bật khác biệt cho các dân tộc thiểu số, làm thay đổi vị thế của họ trong mối tương quan với những nền văn hóa chính thống. Âm nhạc là sứ giả văn hóa đưa cộng đồng thiểu số hòa nhập vào bối cảnh chung của toàn quốc gia, toàn khu vực hoặc toàn cầu.

Âm nhạc là một ngôn ngữ có rất nhiều phương ngữ. Bản sắc địa phương, bản sắc dân tộc một mặt được tôn trọng như “bản quyền” của thiểu số, mặt khác vẫn diễn ra không ngừng những cuộc giao thoa, trao đổi và vay mượn lẫn nhau giữa các truyền thống khác nhau. Thách thức ở đây không nhỏ. Rất khó lường hiệu quả tích cực hay tiêu cực trong việc sử dụng “trích dẫn” bản quyền của dân tộc thiểu số, có thể làm phong phú hơn qua sự hiểu biết lẫn nhau, có thể làm méo mó và ảnh hưởng đến sự tự trình diễn của âm nhạc thiểu số.

Đối thoại đa văn hóa còn thấy rõ trong khả năng biểu hiện theo cách của mình bằng ngôn ngữ âm nhạc của nền văn hóa khác. Vấn đề của các dân tộc khác với âm nhạc châu Âu, trong đó có Việt Nam, là tạo nên bản sắc dân tộc mình qua ngôn ngữ âm nhạc châu Âu để góp thêm một bè nhạc không nhạt nhòa cho bản hòa tấu đa truyền thống.

Những nước châu Á quá chú trọng đào tạo theo phương thức “Tây học” giờ đây lại cần đến sự thay đổi từ nhận thức. Đó là sự chấp nhận các hình thức khác nhau trong thực hành âm nhạc thông qua giáo dục và cách thức truyền dạy. Việc giảng dạy âm nhạc không thể chỉ trông chờ vào đào tạo chính quy. Những lợi thế của đào tạo không chính quy đòi hỏi sự nhìn nhận những tài năng không bằng cấp. Xem ra điều này thật khác với bệnh hình thức chạy theo bằng cấp và học vị ở Việt Nam.

Từ khía cạnh âm nhạc dân tộc học ứng dụng, đáng chú ý nhất là cách hiểu về tính động và tính bền vững của di sản âm nhạc, hai khái niệm tưởng như mâu thuẫn, nhưng đều liên quan trực tiếp đến sự sống còn của các giá trị truyền thống. Tính động là một đặc tính của âm nhạc dân gian, là sự ứng tác theo phong cách cổ truyền trong khuôn khổ cấu trúc mô hình mang tính ổn định được cộng đồng công nhận. Mỗi người ở mỗi thời điểm đều để lại dấu ấn cá nhân, dấu ấn thời gian. Mỗi thế hệ đều tạo nên dấu ấn thời đại trên cơ sở tôn trọng những nguyên tắc cổ truyền.

Không thể có sự bền vững nếu âm nhạc khô cứng và không đến được với lớp trẻ. Bằng nhiều cách khác nhau cần phải trao cho giới trẻ những giá trị cổ truyền để đến lượt họ có quyền khắc cái “tôi” của mình lên những giá trị đó, để họ biết sử dụng âm nhạc như một phương tiện đối thoại hòa bình giữa người với người, giữa thế hệ trước với thế hệ sau, giữa dân tộc này với dân tộc khác. 

NGUYỄN THỊ MINH CHÂU

Tin cùng chuyên mục