Kỷ vật

1. Ở quê tôi, tháng Bảy năm nào cũng nhiều mưa. Những cơn mưa từ đầu nguồn đổ về, phủ lên cánh đồng một màu nước đục ngầu phù sa. Cũng vào những ngày như vậy, mẹ tôi lại sai con cháu lấy gáo nước giếng giội lên cái cối đá nằm dưới gốc xoài sau hè. Nước vừa chảy qua, mặt đá xám xịt bỗng hiện lên những đường vân ngoằn ngoèo như gân tay của một người già đã đi hết gần trăm năm.

Ngoại tôi tên Lành, người nhỏ thó, nước da ngăm như màu phù sa mùa nước nổi. Người trong xóm kể, hồi còn con gái, ngoại nổi tiếng đẹp, đẹp theo kiểu đàn bà quê, không phải trắng trẻo kiêu sa mà có đôi mắt hiền, nụ cười như bóng dừa nước và giọng nói nghe tới đâu là người ta thấy lòng nhẹ tới đó. Ông ngoại thương bà ngoại từ thuở còn chèo xuồng đi bán chiếu dạo. Hai người lấy nhau chưa được mấy năm thì quê hương bước vào giai đoạn binh lửa cam go. Ông theo cách mạng. Ngoại ở nhà chăm con.

CN6 minh họa truyện 26-7.jpg
MINH HỌA: ANH DŨNG

Ngày tiễn chồng đi, ngoại không khóc lấy một lần, chỉ đứng ở mé sông nhìn chiếc xuồng khuất sau đám bần rồi quay vào bếp, dùng hai tay ôm lấy cái cối đá. Sau này mẹ bảo, có lẽ lúc ấy ngoại hiểu, từ nay mình sẽ sống bằng sự chờ đợi. Nhưng sự chờ đợi của người đàn bà trong chiến tranh không giống như trong truyện cổ tích. Nó không chỉ có nhớ thương, mà còn có bổn phận.

Cái cối đá là của hồi môn duy nhất mà ngoại đem theo ngày về nhà chồng. Hai thớt đá trắng được đẽo từ núi, nặng đến mấy người đàn ông mới khiêng nổi. Hồi ông ngoại chưa tham gia cách mạng, nó chỉ dùng để xay gạo làm bánh, nghiền đậu làm đậu hũ, kiếm vài đồng nuôi gia đình. Vậy mà chẳng ai ngờ, sau này chính nó lại trở thành một phần của cuộc kháng chiến.

Những năm ấy, vùng ngoại ở là nơi cán bộ thường lui tới. Ban ngày, đồng ruộng vẫn bình yên với tiếng trẻ mục đồng thổi sáo, tiếng ghe chở lúa xuôi dòng, nhưng đêm xuống thì cả xóm như nín thở. Người lớn đi đâu cũng nói bằng mắt. Cửa đóng rất khẽ. Mỗi lần có tiếng chó sủa là ai nấy cũng giật mình.

Ngoại bắt đầu quay cối từ sau nửa đêm. Mẹ kể, cứ đợi tiếng cú mèo ngoài bờ tre cất lên ba tiếng, ngoại mới lặng lẽ nhóm bếp. Gạo được vo từ chiều, hong ráo rồi đổ vào cối. Ngoại lấy bao bố quấn quanh chân cối để tiếng đá va nhau nhỏ bớt. Hai bàn tay gầy guộc nắm lấy thanh gỗ, chậm rãi đẩy từng vòng. Cộc…/ Cộc…/ Cộc… Âm thanh nhỏ đến mức chỉ người trong nhà mới nghe thấy.

Ngoại nói với mẹ tôi, khi ấy còn là con bé lên tám:

- Ráng ngủ đi con. Mai còn đi học.

Mẹ lim dim hỏi:

- Mẹ xay chi nhiều dữ vậy?

Ngoại vuốt tóc con, cười rất nhẹ:

- Để mấy chú ngoài rừng có cái ăn.

Đứa nhỏ như mẹ đâu hiểu “mấy chú ngoài rừng” là ai. Chỉ thấy sáng nào thức dậy, mấy loại bánh lá, bánh ít, bánh ú đã được gói ngay ngắn. Rồi tới chạng vạng, có người chèo xuồng ghé sát mé kinh, gõ nhẹ ba tiếng lên mạn xuồng. Ngoại xách giỏ bánh ra đưa vội. Người nhận cũng chẳng ở lại lâu. Chiếc xuồng lại lặng lẽ chìm vào bóng tối.

2. Mẹ nhớ hoài mấy đêm ông ngoại bí mật ghé về thăm, dù chỉ vỏn vẹn vài tiếng đồng hồ. Ông ngồi bên cái cối, phụ ngoại quay mấy vòng rồi nhìn hai đứa con ngồi chơi trên bộ ván.

Ngoại hỏi:

- Chừng nào mình hết đánh giặc hả ông?

Ông cười xót xa:

- Chắc cũng không lâu đâu.

Hôm ấy, trước khi đi, ông lấy con dao nhỏ khắc vào cạnh cối hai chữ rất bé: “Đợi anh”.

Mẹ bảo, ngoại cứ lấy tay sờ lên hai chữ ấy thật lâu. Không ai ngờ đó lại là lần cuối cùng hai người còn được ngồi cạnh nhau nghe tiếng cối quay trong một đêm tháng Bảy...

***

Tin ông hy sinh được người giao liên mang về vào một buổi chiều tháng Bảy, khi ngoại vừa gỡ mẻ bánh lá cuối cùng khỏi nồi hấp. Người cán bộ đứng rất lâu ngoài sân, chiếc nón lá còn nhỏ nước. Anh không dám bước vào ngay, cứ chần chừ mãi. Đến khi ngoại nhìn thấy gương mặt cúi gằm ấy, bà dường như đã hiểu điều gì. Có những tin dữ chỉ cần nhìn ánh mắt của người đưa tin là đã rõ ràng hơn cả mọi thứ thanh âm.

Ông ngã xuống trong một trận càn khi đang đưa đồng đội băng qua cánh đồng lúa phía ngoài khu căn cứ. Đồng đội giữ được lực lượng, còn ông thì ở lại mãi. Mảnh đất này giữ ông lại, không cho gia đình được nhìn mặt lần cuối.

Ngoại đứng lặng, hai bàn tay dính đầy bột gạo vẫn còn trắng xóa. Bà quay vào bếp, đặt nồi bánh xuống, rồi chậm rãi ngồi trước cái cối đá. Ngoại không khóc, chỉ đưa bàn tay lần theo hai chữ “Đợi anh” mà ông đã khắc hôm nào. Ngón tay gầy guộc dừng lại thật lâu trên từng nét chữ đã bắt đầu sần sùi theo thời gian.

Mẹ tôi kể, đó là lần đầu tiên bà hiểu thế nào là sự mạnh mẽ của một người phụ nữ. Ngoại không cho phép mình gục ngã, bởi phía sau lưng bà còn hai đứa con thơ, còn những người lính trong rừng vẫn đang chờ từng gói bột, từng chiếc bánh. Nỗi đau của riêng mình phải lùi lại sau nỗi lo của đất nước.

Từ hôm ấy, cái cối đá gần như không có ngày nghỉ. Ban ngày, ngoại xay gạo làm bánh đem bán ở chợ huyện. Ban đêm, khi con nước ròng kéo theo mùi bùn non từ ngoài sông vào tận hiên nhà, ngoại lại ngồi bên cái cối. Mỗi vòng quay là một vòng hy vọng. Hy vọng mấy chú bộ đội ngày mai còn đủ sức hành quân. Hy vọng chiến tranh chóng hết. Hy vọng hai đứa con mình lớn lên sẽ không còn phải nghe tiếng bom.

Mẹ tôi và cậu Út lớn lên trong âm thanh ấy. Tuổi thơ của họ không có tiếng nhạc từ chiếc radio, không có truyện tranh hay những món đồ chơi bằng nhựa. Thứ âm thanh quen thuộc nhất là tiếng cối đá xoay trong đêm, tiếng chày giã nếp ngoài sân, tiếng ngoại trở mình vì nhức mỏi sau một ngày lao động.

Có những hôm mẹ thức giấc lúc nửa đêm, thấy ngoại vẫn ngồi đó. Ánh đèn dầu hắt lên gương mặt đã hằn những vệt nhọc nhằn. Hai cánh tay gầy đến nỗi mỗi lần đẩy thanh gỗ, mạch máu lại nổi lên xanh biếc. Mồ hôi chảy dọc sống lưng, thấm ướt vạt áo bà ba đã vá đi vá lại nhiều lần.

3. Rồi ngày đất nước thống nhất đã đến.

Tiếng súng lùi xa. Con đường đất trước nhà không còn dấu chân hành quân. Những người lính trở về. Có người ghé thắp cho ông ngoại nén nhang, có người ôm lấy ngoại mà khóc như gặp lại người thân ruột thịt. Họ kể cho mấy mẹ con nghe rằng, đã có những ngày cả đơn vị chia nhau từng nắm bột gạo, từng chiếc bánh lá từ xóm nhỏ của ngoại gửi vào. Có đồng chí bị thương, sống thêm được mấy ngày cũng nhờ chút lương thực ấy.

Những năm đầu sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vẫn còn nhiều thiếu thốn. Cái cối đá lại bước sang một hành trình khác. Nó không còn xay bột cho bộ đội nữa mà chuyển sang xay bột nuôi trẻ con ăn học.

Năm ngoại mất, cả nhà giữ cái cối như một kỷ vật. Có người dưới thị xã nghe tiếng, tìm tới hỏi mua với giá rất cao để đem trưng bày trong quán cà phê cổ.

Mẹ lắc đầu chối từ:

- Nhà tôi bán gì cũng được, riêng cái cối này thì không.

Nó đâu chỉ là một vật dụng. Giờ này nó đã trở thành một kỷ vật vô giá. Trong từng vết mòn trên mặt đá có dấu tay của ngoại, có dòng chữ nhỏ “Đợi anh” đã mờ theo năm tháng. Và trong những dấu tích đó là những mùa mưa tháng Bảy, là tiếng bom, tiếng cười trẻ nhỏ, là những đêm người đàn bà góa bụa quay cối đến mỏi rời đôi vai với niềm tin ngày mai đất nước sẽ bình yên.

Bây giờ, mỗi dịp tháng Bảy, con cháu lại tụ về. Mẹ lấy khăn ướt lau sạch lớp bụi trên mặt cối, đặt cạnh đó một đĩa bánh xèo làm từ bột gạo như ngoại từng xay, rồi lặng lẽ thắp một nén nhang cho ông ngoại, bà ngoại và cho cả những người đã nằm lại trên mảnh đất này.

Chiếc cối đá vẫn nằm đó, lặng im giữa sân nhà, không còn quay nữa, nhưng tôi luôn có cảm giác, chỉ cần áp tai vào mặt đá đã nhẵn bóng, vẫn sẽ nghe rất khẽ tiếng cối năm nào. Tiếng của một người mẹ, người vợ, người phụ nữ bình dị đã dùng cả cuộc đời mình để xoay tròn hai chữ “hy sinh”. Và chính từ những vòng quay lặng lẽ ấy, hai đứa con đã lớn lên, một gia đình được gìn giữ, một quê hương được tiếp sức, và một phần lịch sử của đất nước vẫn còn được kể mãi bằng ký ức chẳng phai màu.

Tin cùng chuyên mục