Tại buổi họp báo ngày 7-10 ở TPHCM, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, việc mua tạm trữ lúa gạo (đợt 2) sẽ vẫn tiếp tục cho đến tháng 11 như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Nhưng việc mua lúa gạo hàng hóa trong dân giai đoạn này không còn bị áp lực như 1 - 2 tháng trước và cũng không dễ mua do giá lúa gạo đã tăng trở lại. Đến cuối tháng 9, nếu tính cả mua tạm trữ giai đoạn 1 (tháng 8), các doanh nghiệp VFA đã mua được hơn 880.000 tấn gạo.
Tại buổi họp báo ngày 7-10 ở TPHCM, Hiệp hội Lương thực Việt Nam (VFA) cho biết, việc mua tạm trữ lúa gạo (đợt 2) sẽ vẫn tiếp tục cho đến tháng 11 như chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. Nhưng việc mua lúa gạo hàng hóa trong dân giai đoạn này không còn bị áp lực như 1 - 2 tháng trước và cũng không dễ mua do giá lúa gạo đã tăng trở lại. Đến cuối tháng 9, nếu tính cả mua tạm trữ giai đoạn 1 (tháng 8), các doanh nghiệp VFA đã mua được hơn 880.000 tấn gạo.
Giá đã vượt ngưỡng 400 USD/tấn
Theo thông tin từ VFA, giá lúa trong nước đã đạt 4.200 – 4.300 đồng/kg (so với giá sàn quy định 3.800 đồng/kg để nông dân có lời). Giá gạo giao dịch trên thị trường thế giới cũng đã nhích lên. Nếu trước đó khách hàng nước ngoài ép giá, chỉ đồng ý mua gạo Việt Nam ở mức 375 - 380 USD/tấn gạo 5% tấm thì ngày 6 và 7-10, họ đã trả 395 - 400 USD/tấn. Trong khi đó, đã có doanh nghiệp Việt Nam ký hợp đồng xuất khẩu mấy trăm ngàn tấn gạo với giá 400 - 405 USD/tấn gạo 5% tấm.
VFA cũng cho biết, những hợp đồng với số lượng lớn sẽ được ký vào cuối năm. Như vậy, hiệp hội kiên quyết giữ giá sàn xuất khẩu gạo không cho giảm hơn nữa. Những tháng qua, giá ở mức 400 USD/tấn gạo 5%, 360 USD/tấn gạo 15% và 350 USD/tấn gạo 25% tấm.
Đến hết tháng 9, trong số 5,798 triệu tấn gạo được ký hợp đồng đã xuất khẩu 4,975 triệu tấn gạo, quy ra giá FOB tương đương 2,019 tỷ USD (giá CIF là 2,2 tỷ USD). Trong số này, hợp đồng tập trung là 2,280 triệu tấn, còn lại 2,696 triệu tấn là hợp đồng thương mại.
Như vậy mức giá bình quân 405,76 USD/tấn. So với cùng kỳ tăng 39,97% về lượng, giảm về trị giá. Xét về phẩm cấp, gạo cao cấp chiếm hơn 38% (tăng 79% so cùng kỳ năm 2008), gạo trung bình chiếm 20,6% (tăng 26,38% so cùng kỳ) và gạo cấp thấp chiếm 29,5% (tăng 8,45% so cùng kỳ).
Về thị trường, châu Á (bao gồm cả Trung Đông) vẫn là chủ yếu với chiếm 61,3% tổng lượng gạo xuất khẩu. Kế đến là châu Phi chiếm 27,72%. Ngoài ra còn có thị trường châu Mỹ, châu Âu, châu Úc.
Nông dân ĐBSCL thu hoạch lúa cung ứng chế biến gạo xuất khẩu. Ảnh: ĐỨC THÀNH
Đầu tư ra nước ngoài -– chiến lược để phát triển
EU đưa Campuchia vào một trong 49 nước nghèo nhất thế giới nên được miễn thuế khi xuất khẩu gạo (0%) vào thị trường các nước trong khối này từ 1-9-2009. Nắm bắt cơ hội này cùng với lợi thế dân số ít mà đất đai và tiềm năng về nông nghiệp còn rất lớn, Tổng Công ty Lương thực miền Nam (Vinafood) cùng với 1 ngân hàng trong nước và phía Campuchia vừa thành lập Công ty liên doanh Cavifoods nhằm tham gia thu mua, chế biến và xuất khẩu gạo từ Campuchia với số vốn ban đầu là 17,5 triệu USD.
Đây là hướng mở mới nhất ra nước ngoài của doanh nghiệp xuất khẩu gạo Việt Nam trong bối cảnh thế giới ngày càng hội nhập. Nếu bỏ mất cơ hội này sẽ bị Thái Lan và các nước xung quanh giành lấy.
Trước đó, năm 2008, sau khi được sự chấp thuận của Chính phủ, Tổng Công ty Lương thực miền Nam cũng đã thành lập công ty 100% vốn nước ngoài tại Singapore với tên gọi Saigon Food (Pte. Ltd.), vốn đăng ký 625.000 USD, tương đương khoảng 850.000 đô la Singapore. Công ty này nằm trong chiến lược mở rộng hoạt động của Vinafood ra nước ngoài, không chỉ để xuất khẩu gạo, mua bán bột mì, nguyên liệu chế biến thức ăn thủy sản mà có cả việc bán gạo cho Thái Lan nếu thấy có lợi.
Thông thường những công ty hoạt động tại Singapore có lợi thế lớn và đàm phán hiệu quả hơn với khách hàng thế giới so với công ty tại Việt Nam, đặc biệt là khi đàm phán xuất khẩu gạo vào các nước châu Phi.
Giá sàn “cứng” và “mềm”
Trả lời câu hỏi của báo chí về việc có hay không doanh nghiệp thành viên, kể cả lãnh đạo VFA bán phá giá gạo, Phó Chủ tịch VFA Nguyễn Thọ Trí cho rằng, giá sàn các loại gạo được điều chỉnh liên tục cho phù hợp với tình hình thị trường và tùy theo lúc mà sẽ là giá sàn “cứng” hay “mềm”.
Trường hợp của IMEXTRAVINH bán cho công ty nước ngoài vào ngày 29-5-2009 số lượng 8.000 tấn gạo (5% tấm) với giá 400 USD/tấn, thời gian giao hàng từ 1-6 đến 30-7 (do trục trặc phía nước ngoài nên có 2.000 tấn phải giao sang tháng 8) và một số doanh nghiệp thành viên khác cũng bán với giá này, trong khi trang web của VFA là 430 USD/tấn gạo (5% tấm).
Do trang web của VFA chậm được cập nhật nên thông tin giá sàn xuất khẩu 430 USD thời điểm đó là không chuẩn xác. Theo thông báo ngày 11-5 của VFA, giá sàn gạo 5% tấm là 410 USD/tấn (đây là giá điều hành linh hoạt của thường trực hiệp hội, nghĩa là giá có thể giảm theo biên độ cho phép để phù hợp thị trường).
Đến ngày 1-6, thông báo của VFA giá sàn vẫn ở mức 410 USD/tấn theo giá linh hoạt. Như vậy, giá IMEXTRAVINH ký là giá phổ biến lúc này. Sau đó, tháng 7, VFA điều chỉnh giá sàn lên 430 USD/tấn để chuẩn bị đấu thầu xuất khẩu gạo và thị trường tập trung ở nước ngoài.
Từ tháng 8 trở lại đây, VFA chốt giá sàn “cứng” (không biên độ giảm) là 400 USD/tấn gạo 5% tấm, 375 USD/tấn gạo 15% tấm và 350 USD/tấn gạo 25% tấm. Như vậy, do có sự chưa khớp giá giữa văn bản và trang web nên tạo ra sự hiểu lầm không đáng có cho nhiều người.