Trong nhiều năm qua, từ khi đất nước mở cửa phát triển kinh tế, các ngành kinh tế luôn dẫn đầu tại các trường đại học - cao đẳng (ĐH-CĐ) về lượng thí sinh (TS) dự thi. Đến nay, sau khi Việt Nam gia nhập sân chơi toàn cầu (vào WTO), nhu cầu về nguồn nhân lực trong lĩnh vực này càng trở nên thiếu và hiếm. Tuy nhiên, trên thực tế, giữa đào tạo và nhu cầu đang “vênh” nhau!
Thiếu cục bộ, thừa tổng thể
SV Khoa Công nghệ sinh học ĐH Nông Lâm TPHCM thực hành trong phòng thí nghiệm Hóa Lý. Ảnh: MAI HẢI
Từ nhiều năm qua, mỗi kỳ tuyển sinh ĐH-CĐ, số hồ sơ đăng ký dự thi vào các khối ngành kinh tế vẫn luôn dẫn đầu các ngành thời thượng.
Các thông tin về tuyển sinh trên các phương tiện truyền thông năm 2005 cho biết, đăng ký dự thi ĐH: “dẫn đầu là kinh tế”. Năm 2006 “nhất kinh tế”, năm 2007 vẫn “nhất kinh tế…”.
Tuy khối ngành kinh tế chiếm lĩnh sự ưu ái hàng đầu của các TS, nhưng mới đây, tại một cuộc hội thảo bàn về nhân lực ngành tài chính - ngân hàng, các chuyên gia trong lĩnh vực này phải “kêu” vì đang thiếu hụt trầm trọng nhân sự, dù từ khoảng 10 năm trước, đã có nhiều dự báo cho rằng hiện nay là thời điểm mà nhu cầu về nguồn lực cho ngành tài chính – ngân hàng sẽ trở nên “sốt”.
Bên cạnh đó, đối với ngành kinh tế phát triển và quản lý nguồn nhân lực, ngày càng có nhiều doanh nghiệp đăng ký tuyển dụng, nhưng tìm “đỏ mắt” cũng không ra. Giải thích về điều này, nhân viên một trung tâm giới thiệu việc làm cho biết, khác với một số ngành nghề khác, ngành kinh tế phát triển và quản lý nguồn nhân lực có số lượng đào tạo rất ít tại các trường ĐH-CĐ.
Hướng nghiệp: có dự báo nhưng thiếu thông tin
Sự bùng nổ của các hoạt động chứng khoán, tài chính, ngân hàng trong bối cảnh Việt Nam gia nhập WTO đã khiến dự báo của 10 năm trước trở thành hiện thực, nhu cầu nguồn lực cho ngành này đang rất cao, nhưng lại không được đáp ứng kịp thời.
Nhiều nhà làm giáo dục cho rằng, tuy có dự báo về nhu cầu nguồn nhân lực trong tương lai nhưng về phía TS lại ít có thông tin về dự báo này nên đã dẫn đến hậu quả của ngày hôm nay. Mặt khác, trước đây, ngoài việc TS ít chọn học ngành tài chính, ngân hàng, thì ngay cả những sinh viên học ngành này khi ra trường cũng không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp. Chính vì vậy, nhân lực cho lĩnh vực này đã thiếu, nay còn thiếu hơn.
Sinh viên trường ĐH Kinh tế TPHCM tham gia hội chợ việc làm do trường tổ chức. Anh: P.Đ.
Một cán bộ Ngân hàng Quốc tế (VIB Bank) cho biết, cứ mỗi đợt tuyển dụng, VIB Bank lại nhận được hàng ngàn đơn ứng cử. Nhưng tỷ lệ trúng tuyển không cao, nhiều khi phải đăng tuyển nhiều lần cho một vị trí tuyển dụng mới chọn được người đạt yêu cầu.
Phần lớn nhân viên mới đều cần thêm 2 - 6 tháng để đào tạo chuyên sâu về nghiệp vụ và kỹ năng làm việc. Nhiều doanh nghiệp ngành tài chính - ngân hàng khác cũng than phiền về tình trạng phổ biến hiện nay là “doanh nghiệp nào cũng phải đào tạo lại” các sinh viên được tuyển dụng.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này mà chính ngành GD-ĐT lâu nay đã phải thừa nhận: một phần do chương trình đào tạo vừa thừa, lại vừa thiếu - thừa các môn cơ bản nhưng thiếu chuyên sâu, trong khi phần lớn đều thiếu vắng tính thực tiễn.
Hội nhập sâu hơn với thị trường
Tại các buổi hội chợ việc làm những năm gần đây ở Trường ĐH Kinh tế TPHCM, các “đối tác” Ngân hàng TMCP Phương Đông, Ngân hàng Á Châu, Ngân hàng Đông Á… không ngớt lời khen tặng các “sản phẩm” đào tạo của trường ngày càng năng động và “biết việc” hơn. Để có được lời khen từ những khách hàng khó tính đó, từ nhiều năm qua, khoa Ngân hàng đã làm một “cuộc đổi mới” về phương pháp giảng dạy, kéo lý thuyết gần với thực tiễn hơn.
Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh cũng đã từng nhận định, nguyên nhân của việc SV ra trường không đáp ứng được những yêu cầu thực tiễn của công việc, chính là do việc đào tạo tại các trường chưa chú ý đến nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực trong xã hội, cũng như chưa gắn với thị trường lao động.
Nói cách khác – như lời của Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân, ĐH, CĐ, TCCN lâu nay đang đào tạo theo những gì mình có; các trường khi mở ngành mới hầu hết cũng sao chép theo cái đã có. Do nhu cầu của người học rất lớn, nên giáo dục nghề nghiệp, đặc biệt là giáo dục ĐH đang còn ở thế độc quyền.
Tình trạng này gây ra hiện tượng thiếu thừa cục bộ về nguồn nhân lực, gây lãng phí không chỉ về nguồn lực nhà nước, tiền bạc của dân mà còn lãng phí thời gian và cơ hội của người học. Do đó, để phá thế này, giáo dục sau phổ thông ở nước ta cần phải làm thế nào để chuyển hướng từ đào tạo theo cái đã có sang “đào tạo theo nhu cầu” càng sớm càng tốt.
Một cuộc khảo sát trên 7.049 học sinh (HS) phổ thông các tỉnh, thành phía Nam về ngành nghề yêu thích do Trường CĐ Kinh tế Công nghệ TPHCM tiến hành năm 2007, cho thấy, quản trị kinh doanh là ngành mà TS quan tâm nhiều nhất khi nộp đơn đăng ký dự thi với tỷ lệ 31,8% (2.243 HS), kế đến là ngành kế toán chiếm 25,4% (1.788 HS). Các ngành mà TS “ngán” nhất là vật liệu (chỉ có 39 HS đăng ký dự thi), cơ khí (127 HS). Ở khối ngành công nghệ, dẫn đầu là CNTT chiếm 13,1% (923 HS). TS quan tâm đến các ngành tài chính ngân hàng, quản trị văn phòng, hướng dẫn viên du lịch... chiếm 15,1% (1.062 HS). |
PH.ĐÔNG - M.HẰNG