Đó là câu thơ tôi viết sau khi chiến tranh đã kết thúc được đăng trên báo Sài Gòn Giải Phóng ngày 18-1-1998. Mỗi người Việt Nam, khi nói đến những ngày tháng chạp năm 1972, ai cũng hiểu rằng, đó là nói về thời kỳ khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ở miền Bắc nước ta. Những ngày kẻ thù mở cuộc tập kích chiến lược bằng pháo đài bay B-52 tàn phá Hà Nội, Hải Phòng và chính là thời điểm quân dân ta làm nên một “Điện Biên Phủ trên không” chấn động địa cầu.
Máy bay B52 của Mỹ bị bắn rơi ở sông Hồng (Hà Nội - 1972). Ảnh: ĐOÀN CÔNG TÍNH
Đêm 26-12, giặc Mỹ đã huy động nhiều tốp máy bay ném bom chiến lược B-52 rải thảm Hà Nội, Hải Phòng, một số thành phố đông dân và đặc biệt là các sân bay quân sự.
Cũng ngay trong đêm đó, tôi được chỉ huy phân công trực chiến ngày 27-12 với đồng chí Đỗ Văn Lanh. Lúc đó, cả hai chúng tôi còn rất trẻ, mới ngoài 20 tuổi. Đồng chí Lanh sau này trở thành Anh hùng Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã hy sinh sau chiến tranh trong khi làm nhiệm vụ.
Trong nhà trực chiến, anh em chúng tôi được sĩ quan tác chiến từ sở chỉ huy thông báo tình trạng đường băng chính bị ném bom hư hỏng hoàn toàn, phải sử dụng đường lăn làm đường băng cất, hạ cánh. Từng anh em chúng tôi cũng được bác sĩ quân y kiểm tra tình trạng sức khỏe và tâm lý. Hiện tại, sân bay nơi chúng tôi đang trực chiến, đường băng cũng bị hai dải bom B-52 cắt chéo, hố bom dày đặc. Đường băng không thể cất hạ cánh được. Rất may đường lăn không bị bom, nhưng nó lại rất nhỏ.
Đến khoảng 11 giờ 30, trong khi đang ăn trưa, có lệnh báo động cấp 1. Tôi vội vã cầm mũ bay, lao vút ra máy bay, leo lên thang, vào buồng lái.
Máy bay đồng chí Lanh, biên đội trưởng, ra đầu đường lăn và cất cánh. Bụi bay mù mịt từ những hố bom chằng chịt, nham nhở của những đợt rải thảm B-52 tối hôm qua vào sân bay, ngay sát đường lăn mà bây giờ đã trở thành đường băng cất cánh do đường băng chính đã bị hỏng vì trúng bom Mỹ. Tôi không nhìn thấy đường lăn, chỉ có thể định hướng theo dải bụi kép dài phía sau đuôi máy bay của đồng chí Lanh khi chạy đà cất cánh. Sau khi thu càng và nhận được thông báo của sở chỉ huy, tiếng của đồng chí Nguyễn Hồng Nhị, Trung đoàn trưởng vang lên: “05! Hướng bay 350, cao độ 5.000”. Đồng chí Lanh trả lời: “Nghe tốt!”. Rất may lúc đó tôi kịp nhìn thấy máy bay đồng chí Lanh đang vòng bên trái rất xa. Tôi nhập đội hình và bay theo lệnh của sở chỉ huy.
Trong khi đang xuyên lên tới độ cao 2.500m, 3.000m, vừa qua khỏi một tầng mây, thì có lệnh: “05! Vòng phải 160, độ cao 2.000m, phía sau bên phải 20 độ, 20km đang có nhiều tốp quạ đen phía trên!”. Tôi nghe tiếng đồng chí Lanh trả lời: “Nghe rõ!” và vòng phải gấp. Lúc này, máy bay của tôi đang ở bên cạnh phải máy bay đồng chí Lanh. Rất nhanh, tôi đánh cần lái sang bên phải để giữ đội hình. Lúc này, lại nghe: “05! Quạ đen bên trái 25 độ, phía sau 16km!”. Tôi vội đánh cần lái sang trái để quan sát, nhưng không phát hiện thấy máy bay địch. Sở chỉ huy lại có lệnh: “05! Khẩn trương giảm xuống độ cao 500m, 210 độ, quạ đen đang bám sát!”. Qua giọng nói của Sở chỉ huy, chúng tôi biết tình hình rất nguy cấp. Thật khó khăn và căng thẳng khi vừa phải giữ đội hình, vừa phải xuyên mây xuống, vừa quan sát máy bay địch. Đồng chí Lanh điều khiển máy bay lúc vòng bên phải, lượn bên trái, lúc lên lúc xuống để lách tránh mây và cơ động phát hiện địch. Tôi bay phía sau, vừa có nhiệm vụ cảnh giới bảo vệ biên đội, vừa phải luôn luôn giữ vững đội hình. Do tôi bay quá gần nên đồng chí Lanh ra hiệu cho tôi giãn rộng cự ly, để phòng tên lửa của địch.
Vừa đến độ cao 500m, 210 độ, thì nghe tiếng Sở chỉ huy thông báo: “05! Bên trái 30 độ, 10km, quạ đen đang đến gần!”. Tôi đánh cần lái sang bên trái để quan sát, nhưng vẫn chưa thấy địch. Tôi đảo cánh trở về bên phải thì phát hiện 2 máy bay địch đang bay ở ngay bên cạnh phải của biên đội. Tôi hơi giật mình vì thấy hai chiếc F-4 của Mỹ đen trũi, mốc thếch, rất to, ngay bên cạnh. Có thể những thằng phi công Mỹ nó chưa phát hiện ra tôi, nên tôi vội đẩy cần lái lên phía trước để giảm độ cao và điều khiển máy bay nằm ép mình dưới đội hình của máy bay địch. Tôi thông báo cho đồng chí Lanh: “05! Cơ động đi, có địch ở phía sau!”. Đồng chí Lanh trả lời: “Nghe tốt!” và cơ động theo hình dích dắc, lên xuống. Vừa đúng cự ly cho phép, tôi bật công tắc an toàn và ấn nút phóng tên lửa. Máy bay hơi rùng mình, lắc nhẹ. Tên lửa được phóng ra, hơi rơi xuống rồi lao vút thẳng vào máy bay địch, nổ bùng. Tôi thấy máy bay địch chao đảo, lắc lư, nhưng vẫn còn bay. Tôi nghĩ chắc nó đã bị thương*. Tôi hơi ngạc nhiên, nhưng vẫn nghiến răng kéo cần lái bám theo máy bay địch đang cơ động rất gấp phía trước. Tôi cố gắng đưa máy bay địch vào kính ngắm một lần nữa. Đội hình của địch nháo nhác và cơ động liên tục rất gấp vì biết là có máy bay MIG của ta đeo bám phía sau. Đồng chí Lanh vẫn cơ động phía trước và động viên tôi: “06, bình tĩnh, yên tâm bắn cho chính xác, tôi vẫn cơ động để nhử địch!”. Mắt tối sầm vì quá tải lớn, chẳng nhìn thấy gì cả. Chỉ có linh cảm và ý chí để phán đoán máy bay địch sẽ làm động tác gì? Sau nhiều vòng quần nhau với máy bay địch, có lúc phải làm động tác lừa địch, tôi lại đưa được một quạ đen khác vào đúng tâm của vòng ngắm của máy bay mình. Tôi ấn nút. Tên lửa rời bệ phóng, khẽ rơi xuống. Tôi chợt nghĩ: “Thôi, toi rồi!” vì đây là quả tên lửa thứ hai được gắn trên máy bay. Nhưng không, tên lửa lại lao vút đi, thẳng tắp, rất đẹp, rồi một quầng lửa rất to, nổ bùng như quả bom na-pan. Sở chỉ huy reo lên: “Trúng rồi, quạ đen đã bị hạ?”.
Lúc này tôi thấy máy bay mình đã ở rất gần mặt đất. Nhìn đồng hồ thấy đồng hồ độ cao chỉ 220m. Sở chỉ huy lại thông báo cho tôi: “06, về căn cứ, bên trái 40 độ, 8km!”. Tôi như bừng tỉnh và nhìn thấy những dãy núi quanh sân bay đã ở phía trước. Tôi xin phép hạ cánh và thả càng, chuẩn bị thao tác hạ cánh. Vừa qua khỏi vòng 4, đang từ từ hạ độ cao, thì nghe lệnh rất gấp của đài bổ trợ: “06, thu càng, bay lại, cơ động gấp, phía sau có địch rất gần”. Tôi vội thu càng, cánh tà, tăng vòng quay, mở tăng lực động cơ và cơ động sang trái ở độ cao rất thấp. Hồ Đại Lải ngay phía dưới bụng máy bay, tưởng chừng như có thể chạm vào mặt nước hồ. Khu E (doanh trại đoàn Sao Đỏ) thì ngay sát bên phải.
Tôi rất buồn vì lúc này máy bay đã hết vũ khí vì khi đó MIG-21 mới chỉ được trang bị 2 quả tên lửa “không đối không”. Nếu còn vũ khí, tôi sẽ sẵn sàng tiếp tục chiến đấu. Một ý nghĩ thoáng qua là máy bay mình cũng có thể là quả tên lửa “thứ ba” và là cuối cùng. Vừa lúc đó, tiếng đồng chí Thông, chỉ huy đài bổ trợ lại vang lên: “Quạ đen bay qua, 06 về hạ cánh!”. Khi tôi liếc nhìn đồng hồ độ cao và đồng hồ nhiên liệu, thì cũng vừa lúc đèn đỏ bật sáng, báo hiệu: “Dầu còn rất ít”. Tôi tắt tăng lực, giảm vòng quay và quyết định là phải hạ cánh khẩn cấp ở độ cao thấp. Một khó khăn rất lớn đến với tôi là hạ cánh ở đường lăn đầy bụi bặm và hai bên là những hố bom.
Phải tính toán thật chính xác để hạ cánh, tiếp đất ở đầu đường lăn thì mới có nhiều cơ hội sống sót. Còn nếu không thì... Lúc này tôi rất tỉnh táo điều khiển máy bay chính xác, nhịp nhàng theo tính toán cá nhân và sự hỗ trợ của đài hạ cánh. Tiếp đất an toàn. Chạy theo đường lăn được một đoạn thì tôi được lệnh: “06, tắt máy, ra khỏi máy bay ngay, quạ đen đang đến!”. Rất nhanh, tôi tắt máy, thả dù hãm, cho máy bay dừng lại, leo ra khỏi buồng lái, nhảy xuống đất. Chiếc com-măng-ca cũng vừa kịp tới, đón tôi về hầm sở chỉ huy.
Lúc này sở chỉ huy mới thông báo là máy bay đồng chí Lanh đã hạ cánh an toàn ở sân bay Yên Bái, đang chờ lệnh trở về căn cứ. Mọi người chúc mừng và ôm hôn tôi khi xe ô tô còn đang chạy. Vào đến Sở chỉ huy, mọi người ùa ra, bắt tay chúc mừng tôi và đưa tôi vào phòng chỉ huy, nơi đã được chuẩn bị trang nghiêm, có treo ảnh Bác Hồ, cờ Đảng và quốc kỳ. Đồng chí Trần Ưng, Chính ủy Trung đoàn, bắt tay tôi và tuyên bố kết nạp tôi vào Đảng “ngay tại mặt trận” và trao tặng “Huy hiệu Bác Hồ”.
Đây là trận xuất kích thứ hai gặp địch và bắn rơi máy bay địch lần thứ hai của tôi. Sau này tôi còn tham gia những trận khác chống chiến tranh phá hoại miền Bắc của giặc Mỹ xâm lược, cho tới chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử và chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam trên các loại máy bay A-37, F-5 của Mỹ, nhưng đây là một trận đánh đáng ghi nhớ nhất trong cuộc đời quân ngũ.
Dương Bá Kháng