LTS: Những năm gần đây, nền y học Việt Nam đã chứng kiến một dòng chảy ngược đầy tự hào: Bác sĩ “nội” xuất ngoại. Không chỉ sang nước ngoài học tập, họ còn trực tiếp mang kỹ thuật, kinh nghiệm và cả bản lĩnh nghề nghiệp để hỗ trợ cứu người, đào tạo và chuyển giao công nghệ điều trị hiện đại cho nước bạn.
Viết lại số phận bằng kỹ thuật vi phẫu
GS-TS Nguyễn Thế Hoàng, nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 (Bộ Quốc phòng) là thầy thuốc thứ hai của Việt Nam nhận danh hiệu Viện sĩ của Viện Hàn lâm Khoa học Thế giới (TWAS) vào năm 2025. Đây là minh chứng cho trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng vươn tầm quốc tế của các nhà khoa học Việt Nam, đồng thời mở ra cơ hội hợp tác quốc tế sâu rộng trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ vì sức khỏe cộng đồng. Nhưng với GS-TS Nguyễn Thế Hoàng, danh hiệu cao quý ấy có lẽ không rực rỡ bằng nụ cười của những bệnh nhân được ông “tái sinh” để trở về cuộc sống bình thường.
Vào năm 2008, Bệnh viện Ngoại khoa Rechts der Isar (Munich, CHLB Đức) đã thực hiện một ca phẫu thuật không tưởng: ghép 2 cánh tay đồng thời cho một bệnh nhân bị cụt 2 tay do tai nạn lao động. Thời điểm đó, bác sĩ Nguyễn Thế Hoàng là một trong 5 phẫu thuật viên chính của cuộc phẫu thuật lịch sử này khi ông đang nghiên cứu tiến sĩ y khoa ở đây. Thành công của ca phẫu thuật ghép tay đã tạo nên cơn địa chấn của y học thế giới khi một bác sĩ đến từ Việt Nam bằng đôi bàn tay khéo léo và tư duy sắc bén đã cùng các đồng nghiệp hàng đầu thế giới thực hiện điều kỳ diệu. Người bệnh sau đó đã trở lại làm việc bình thường như minh chứng sống động cho sự thành công mỹ mãn của kỹ thuật vi phẫu.
Tại TPHCM, ngày càng nhiều quốc gia trong khu vực đã cử nhân viên y tế đến các bệnh viện: Đại học Y dược, Chợ Rẫy, Bình Dân, Mỹ Đức, Nhi đồng 2, Viện Y dược học cổ truyền… để học tập, nâng cao chuyên môn, tay nghề. Theo không ít chuyên gia, Việt Nam có nhiều loại bệnh, trong đó có những bệnh lý mà các nước phát triển ít gặp…, tạo nhiều thuận lợi cho việc học tập, trao đổi kinh nghiệm. Việc hợp tác đào tạo không những giúp cho các bác sĩ Việt Nam nâng cao trình độ ngoại ngữ, cập nhật kiến thức mới mà còn giúp tăng uy tín của ngành y Việt Nam với cộng đồng y khoa quốc tế.
Trở về Việt Nam sau thời gian dài nghiên cứu, GS-TS Nguyễn Thế Hoàng mang theo khát vọng cháy bỏng là giúp những người lao động nghèo không may mất chi thể được trở lại vẹn tròn. Năm 2020, tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108, GS-TS Nguyễn Thế Hoàng cùng ê kíp đã thực hiện thành công ca ghép chi thể đầu tiên, cũng là ca ghép chi thể đầu tiên ở Đông Nam Á. Đây là ca ghép thành công chi thể đầu tiên trên thế giới lấy từ người cho sống (sử dụng phần thừa còn nguyên lành của một đoạn chi thể đã bị đứt rời, không còn khả năng nối lại và bắt buộc phải cắt cụt để ghép vào phần chi thể tương ứng bị cụt của bệnh nhân nhận ghép). Người nhận ghép bị tai nạn lao động cụt 1/3 cẳng tay dưới từ 4 năm trước. Sau 4 năm chờ đợi, người bệnh đã có được một cẳng tay hoàn toàn mới giống như mơ ước. Tiếp đó là các ca ghép đồng thời 2 cẳng tay, 2 cánh tay từ người cho chết não vào năm 2024.
Người thầy của bác sĩ nước bạn
Là một trong những bác sĩ đầu tiên của Việt Nam được đào tạo bài bản về kỹ thuật phẫu thuật bằng robot, cùng với kinh nghiệm qua hàng trăm ca phẫu thuật, bác sĩ Nguyễn Phú Hữu, Trưởng khoa Phẫu thuật đại trực tràng, Bệnh viện Bình Dân, chia sẻ, năm 2023, ông được Bệnh viện Philippine General Hospital (Philippines) nhờ hỗ trợ, đào tạo về mổ tiêu hóa (dạ dày) bằng robot. Trước sự chứng kiến của đồng nghiệp nước bạn, bác sĩ Nguyễn Phú Hữu đã trực tiếp thực hiện thành công một ca phẫu thuật khó. Đó là trường hợp người bệnh nữ, 50 tuổi, bị ung thư trực tràng giữa đã được hóa trị và phẫu thuật mở hậu môn nhân tạo do tắc ruột.
Trong những ngày ngắn ngủi ở Philippines, bác sĩ Nguyễn Phú Hữu đã “cầm tay chỉ việc” cho đồng nghiệp ở Bệnh viện Philippine General Hospital và có bài giảng về kỹ thuật robot cho hàng trăm bác sĩ các bệnh viện khác của bạn. “Sau những chuyến công tác, tôi nhận được nhiều lời khen ngợi từ các đồng nghiệp bởi những điều tôi chia sẻ đều là kinh nghiệm thực chiến mà không sách vở nào dạy được. Tôi nói vui với họ rằng, ở Việt Nam, chúng tôi còn có hàng ngàn phẫu thuật viên cừ khôi hơn nhiều. Tôi tự hào về điều đó!”, bác sĩ Nguyễn Phú Hữu bày tỏ.
Trong khi đó, PGS-TS Trần Ngọc Sơn, Phó Giám đốc Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn (Hà Nội), lại là người chinh phục những “milimet” trong phẫu thuật nhi. Câu chuyện về ông Warren, công dân Australia sinh sống tại Bali (Indonesia) lặn lội đưa con gái 4 tuổi sang Việt Nam nhờ sự trợ giúp của PGS-TS Trần Ngọc Sơn, thể hiện uy tín của ngành y tế Việt Nam. Con gái ông Warren bị nang ống mật chủ, gia đình đã đi nhiều bệnh viện lớn tại Australia, Singapore, Pháp nhưng đều nhận được lời khuyên: Mổ mở. Thương con còn quá nhỏ, ông Warren lên mạng tìm kiếm và đọc được bài báo quốc tế của PGS-TS Trần Ngọc Sơn về kỹ thuật nội soi một lỗ. Khác với nội soi thông thường (3-4 lỗ), nội soi một lỗ chỉ sử dụng duy nhất một đường rạch nhỏ qua rốn. Đây là một thử thách rất khó ngay cả với nhiều chuyên gia thế giới vì không gian thao tác cực kỳ chật hẹp, dụng cụ dễ va chạm, đòi hỏi độ chính xác đến từng milimet.
Nhưng tại Trung tâm Kỹ thuật cao của Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, ca mổ cho con gái ông Warren thành công ngoạn mục trong sự ngỡ ngàng của thân nhân bệnh nhi. Chỉ một đường rạch nhỏ chưa đầy 2cm giấu khéo léo nơi rốn, PGS-TS Trần Ngọc Sơn đã xử lý triệt để khối nang. Một tuần sau, bé gái đã có thể chạy nhảy, không một vết sẹo co kéo, không nỗi đau dai dẳng. Với hơn 100 báo cáo kỹ thuật tại các hội nghị quốc tế, PGS-TS Trần Ngọc Sơn đã đưa Việt Nam trở thành quốc gia đi đầu thế giới về kỹ thuật nội soi một lỗ điều trị nang ống mật chủ ở trẻ em. Những báo cáo, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn của PGS-TS Trần Ngọc Sơn tại Mỹ hay châu Âu luôn nhận được đánh giá rất cao từ đồng nghiệp quốc tế.