Bài phú “Bái thạch vi huynh” của ai?

Hỏi:

Hỏi: Trên mục Văn hóa, báo Thanh Niên online, ngày 5-1-2007, tác giả Hà Đình Nguyên trong bài “Con rùa đá lớn nhất Tây Nguyên” có nhắc đến bài phú “Bái thạch vi huynh” của Nguyễn Thượng Hiền (1866 - 1925). Xin cho biết thêm về bài phú nói trên.
HOÀNG THẠCH LAN ANH (Chung cư Bàu Cát I, Tân Bình)

KHÁNH TƯỜNG: Trước hết xin đính chính một vài chi tiết nhỏ trong câu hỏi của bạn.

1- Bài phú “Bái thạch vi huynh” (Lạy đá làm anh) là của Phan Bội Châu chứ không phải của người vừa là bạn chí thiết, vừa là đồng chí của ông là Nguyễn Thượng Hiền.

2- Nguyễn Thượng Hiền - kém Phan Bội Châu một tuổi - sinh năm 1868 và mất năm 1925 ở Hàng Châu (Trung Quốc), được hỏa thiêu và rải tro xuống sông Tiền Đường.

– Năm 1897, Phan Bội Châu (lúc bấy giờ còn là Phan Văn San) vào Huế vừa dạy học để mưu sinh, vừa để tìm đồng chí trong giới sĩ phu và quan trường ở Huế, vốn là nơi tụ hội anh hào bốn phương. Trong mục đích đó, Phan Bội Châu sáng tác bài phú nổi tiếng “Bái thạch vi huynh”. Lời văn trác tuyệt chuyển đến người đọc tâm sự, hoài bão của một người muốn tìm đồng chí để cùng góp sức cứu nước.

Bài phú được chuyển đến cho Nguyễn Thượng Hiền lúc bấy giờ đã đậu Hoàng Giáp (1892) đang làm quan ở Quốc sử quán. Nếu không vì việc Thất thủ kinh đô (Huế), vua Hàm Nghi rời bỏ kinh thành (5-7-1885) thì Nguyễn Thượng Hiền đã là tiến sĩ trẻ nhất của triều Nguyễn (17 tuổi). Nguyễn Thượng Hiền là bạn của Tôn Thất Đàm (Cần Vương Thanh Hóa) và là rể của Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết.

Bài phú đã đưa Phan Bội Châu giao kết với Nguyễn Thượng Hiền và hai chí sĩ yêu nước đã thành đôi bạn tri kỷ và là đồng chí trong Duy Tân hội rồi Việt Nam Quang phục hội.

Đá (thạch) trong bài phú là tượng trưng cho người quân tử, hiên ngang, có chí lớn, hoài bão lớn, sẵn sàng gánh vác nhiệm vụ cứu nước. Một người như thế đáng để tác giả tôn làm anh (huynh), để cùng nhau lo việc lớn.

Bài phú này được đánh giá là một trong những bài phú hay nhất trong lịch sử văn học nước ta.

Tin cùng chuyên mục