Từ nhỏ anh đã thích nghe chuyện về các vĩ nhân, những chuyện oái oăm phức tạp của người đời. Anh sinh ra trong một gia đình bình thường mang tính phổ biến nơi phố thị. Cha là công chức nhỏ. Mẹ tần tảo bán buôn ngoài chợ. Mùa đông có áo ấm. Ngày Tết có bánh trái, thịt cá để ăn. “Thế là tốt rồi!...”. Cha anh bảo. Anh không thấy điều đó là tốt rồi, gay gắt nói: “Tẻ nhạt, vô vị... đến phát ốm!”. Giọng mới vỡ, rủng roảng thất thường, hơi khó nghe. Anh thích nhạc giao hưởng, thính phòng cổ điển. Theo tiết tấu bản “Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ”, anh tiến tới giảng đường đại học, khoa ngữ văn-báo chí, sau đó là các tờ báo, các nhà xuất bản ở thành phố lớn và đông dân nhất nước.
Anh quyết chí, quyết tâm lập nghiệp, lưu danh muôn thuở. “Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ” chỉ là nền nhạc cho câu thơ “Đã sống trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông...”.
Bởi vậy, khái niệm về thời gian đối với anh là sự chờ đợi những kết quả. Giống như một chiếc xe máy cổ lỗ sĩ, hết hỏng hóc bugi, lại thủng ruột rách vỏ. Đúng là một gánh nặng. Anh chỉ có ý thức về thời gian khi leo lên giường đi ngủ. Vậy là hết một ngày. Có khi là 22 giờ. Cũng có khi là 4 giờ 30 khi hiệp 2 trận đá bóng ở giải ngoại hạng Anh được tường thuật trực tiếp trên VTV3 kết thúc. Một ngày sôi động vui vẻ, sẽ kéo dài cho tới ngày mai. Một ngày buồn chán, tẻ nhạt. Một ngày lắm chuyện bực mình. Một ngày hoang mang lo lắng... Cũng có khi không có chút ý thức nào cả. Ấy là khi anh gấp gáp hổn hển viết cho xong một bài thơ, một bài báo. Sẽ là một tác phẩm lưu danh muôn thuở như bài “Hoàng hạc lâu” của Thôi Hiệu hoặc chí ít cũng ngang tầm với bài “Cô láng giềng” của Nguyễn Bính. Anh rất thích thơ Nguyễn Bính. Sẽ là một bài báo chấn động xã hội, thiên hạ sẽ phô tô bài báo đó đem bán với giá 5.000 đồng. Bán đầy đường...
Ảo tưởng vinh quang ở bán cầu não bên phải. Các ngôn từ chữ nghĩa dồn đọng nhức nhối ở bán cầu bên trái. Những âm thanh sôi động của “hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ” rền vang, hối thúc các con chữ tuôn ra. Có khi chúng chen lấn xô đẩy nhau như mua vé xe lửa ngày tết. Cũng có khi chúng nằm ườn ra chắn lối cản đường. Anh phải gồng mình gắng sức tém dẹp sắp xếp lại. Rồi, giống như xẹp vỏ bánh xe, tiết tấu hành khúc từ từ tắt lịm. Thời gian như ngưng đọng. Khái niệm về thời gian tuân theo thuyết tương đối của Anhxtanh.
- Nói thực, cậu đừng buồn! Đây là bài thơ của ông Nguyễn Bính “hai phẩy”. Người bình thường hệ tiêu hóa cần phải tốt. Người làm văn thơ hệ tiêu hóa càng phải tốt hơn. Rõ chưa...
Cái ông nhà thơ mặt như cái bong bóng chứa đầy bia Tiger này thật tàn bạo. Dầu sao ông ta cũng đỡ nhẫn tâm hơn bà phụ trách tòa soạn có cái mũi nhọn như mỏ chim. “Cậu có biết cái người cậu hùng hổ bảo vệ là ai không? Là kẻ lừa đảo chuyên nghiệp đó. Ngô nghê hết chỗ nói. Lại còn gì nữa, phải giành lại sự thật. Cậu hiểu sự thật là gì? Sự thật đâu phải là huy chương để cậu giành giật...”. Roi quất vào mặt chắc hẳn cũng chỉ rát đến thế. Và cái ngày dài bằng 20 năm ấy là cái ngày anh cứ loay hoay chằng vá, chữa chạy những vết đau rát trên mặt...
Bạn gái anh ở ngoài quê viết thư báo cho biết trời đã trở lạnh, mùa đông đến rồi. Cây bàng ở phố đầu cầu đã rụng gần hết lá. Chỉ còn đúng 38 chiếc lá đỏ ọc phần cuống, nâu sạm phần trên. Chắc vài ngày nữa là rụng hết. Gió lạnh từ sông thổi lên...
Anh bực mình gấp lá thư nhét vào túi quần, không đọc nữa. Con người cổ hủ trẻ tuổi này vẫn duy trì cái hình thức trao đổi tình cảm từ thế kỷ trước bằng những lá thư. Mà thư nào cũng giống thư nào. Dòng sông, bến đò, cây bàng đầu cầu ra sao, chuyện nhà vui buồn thế nào. Rồi động viên khích lệ theo kiểu hô khẩu hiệu: Cố gắng lên, tụt hậu là bị đào thải...
Đã nhiều lần anh gọi điện thoại, nói cho cô ấy biết phải tôn trọng quý mến những thành tựu của khoa học và nhắc nhở cô ta rằng, ở thời buổi thông tin là một quyền lực, mọi thông tin phải đảm bảo yêu cầu: cần thiết, ngắn gọn, kịp thời... Nói xa nói gần chẳng đi tới đâu, buộc lòng anh phải bắt chước giọng điệu quát nạt cấp dưới của các sếp buyrô:
- Người ta sinh ra điện thoại để làm gì?
- Để nói.
- Vậy thì nói qua điện thoại là đủ rồi, khỏi cần thư từ gì nữa.
- Nhưng em thấy viết thư vẫn dễ nói hơn. Vả lại...
- Gì nữa?
- Em quen rồi! Anh đọc cũng được, không đọc thì vất đi, đâu có sao...
Anh tưởng tượng ra được đôi môi cong tớn của cô nàng xếp lại thành một nét ngang. Biểu hiện của đường thẳng và dấu trừ ( - ). Đấy là dấu hiệu cảnh báo sấm sét của phụ nữ.
Anh vội ờ ờ, làm bộ lơ đãng của các vĩ nhân. Cho qua chuyện đi. Bớt đi một cái phiền toái cũng là điều cần thiết trên con đường mưu sinh lập nghiệp đầy rẫy những trắc trở khó khăn...
Thay vào tiết tấu của “hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ” là âm điệu leng keng của cái chuông sắt rung lên theo xe đẩy của chiếc xe bán kem. Khác với những bạn cùng trang lứa, sau cú “nốc ao” về văn thơ, báo chí, anh vẫn tiếp tục trụ lại nơi nhà trọ bình dân nhếch nhác tồi tàn, sống chung với dân ngoại tỉnh làm nghề tự do. Niềm mơ ước chinh phục đỉnh cao văn chương, báo chí vẫn nóng bỏng trong anh. Chẳng có gì phải đau lòng xấu hổ khi phải bán kem ở các sân trường. Muốn phát triển phải tồn tại. Muốn tồn tại phải có tiền. Đồng tiền anh kiếm ra là lương thiện.
Thỉnh thoảng anh có nghĩa cử đẹp. Vắt mũi lau mặt cho bọn nhóc. Dẫn chúng qua đường. Cũng có khi ra tay “thế thiên hành đạo” trừng trị mấy tên lưu manh bắt nạt trẻ con, trêu ghẹo các em nữ sinh trung học. Tối đến anh la cà đến các trung tâm ngoại ngữ, học cọp, học ké. Đôi khi bị người ta phát hiện, nắm cổ áo, đá đít văng ra ngoài đường. “Xin lỗi chẳng có nghĩa gì, không có tiền thì phải ra đi”. Thêm một tiết tấu mới. Không vui vẻ chút nào nhưng nghe riết cũng quen đi, thấy hay hay, ngồ ngộ. “Rất nhiều vĩ nhân phải chịu cảnh nghèo khó lam lũ. Trời đất thử thách, rèn luyện người thôi mà”. Anh tranh luận với ông chạy xe ôm khi ông này tỏ vẻ thương hại xót xa. Anh căm ghét sự thương hại.
Một chủ cửa hàng ăn cao cấp thuê anh làm gấu trắng Bắc cực mời gọi thực khách. Từ 5 giờ chiều đến 7 giờ tối. Tiền công 20.000 đồng. Trong lốt gấu, anh diễn trò phàm ăn, nhét cả một hình nộm con cá thu khổng lồ vào miệng. Rồi nhảy nhót diễn bài no say túy lúy. Khách cười, vỗ vai. Tỏ ý tán thưởng cũng có, thông cảm cũng có. Một quý bà nhà giàu boa tiền. Tờ bạc mệnh giá 50.000đ lận. Anh trả lại bà ta với câu nói mang đậm mùi vị của Đôngkihôtê ở xứ sở bò tót: “Thưa quý bà, quý bà chiếu cố đến ăn ở nhà hàng chúng tôi là quý hóa lắm rồi”...
Thiên hạ ngạc nhiên. Tại sao có kẻ khờ khạo chê tiền. Anh cũng ngạc nhiên. Tại sao người ta lại coi thường con người đến vậy?
“Những người lao động chân chính đúng với luật pháp cần phải được tôn trọng. Tôi đâu phải là thứ gái bia ôm!” - anh hậm hực.
“Phải! Cậu nói đúng!” – ông chạy xe ôm thân tình. Ý định gây gổ với người khác để trút cơn giận dữ của anh không cánh mà bay, chẳng ai đụng đến cũng tan biến.
“Thiên hạ mà!”. Ông này lý giải theo cách riêng của một tay từng trải “Ba lần qua lửa đỏ, bốn lần qua đông lạnh, mười lần qua bão táp trùng khơi”: “Người ta gọi thiên hạ không có nghĩa là trời, đất đâu nha. Thiên hạ là hai phần trên và dưới. Có phần tối, phần sáng. Khi ở đây sáng ban ngày thì ở bên kia trái đất là đêm. Thiên hạ có phần nổi và phần chìm. Có khi phần nổi tốt lành nhưng phần chìm lại xấu xa. Cũng có khi phần nổi tưởng chừng xấu, phần chìm lại tốt đẹp. Nghĩa là phải thấy hết nổi, chìm của thiên hạ. Thấy rồi sẽ yên tâm để vui với cái vui của thiên hạ, buồn với cái buồn của thiên hạ...”.
Anh viết một phóng sự về những người kiếm sống ở vỉa hè. Bài báo được đăng. Nhuận bút cũng khá. Cái mũi của bà phụ trách tòa soạn bớt nhọn hơn. Bà phán: “Tốt rồi! Cứ thế nha...”. Nhưng việc tiếp nhận, ký hợp đồng bà không nói đến. Cũng chẳng hứa hẹn điều gì. Dù sao anh cũng hy vọng. Quyết chí đi theo cái hướng “tốt rồi!”.
Anh đổi nghề bán kem, tiếp thị khách ăn nhậu sang nghề chạy xe ôm. Chủ nhà khu nhà trọ không có số nhà được gọi nôm na là “tàu dồn toa” nơi anh ở luôn có trong nhà 5 chiếc xe gắn máy cho thuê. Mỗi ngày đêm, giá thuê 20.000 đồng. Hư gì phải tự sửa. Hợp đồng thuê tính từ 5 ngày. Khi mượn xe phải thế chấp 5 triệu. Anh không đủ tiền thế chấp, cái miệng cá tra ăn nhiều thịt, uống nhiều bia rượu lại không chịu khâu khí quản cho hẹp lại của lão chủ thổi vào mặt anh luồng khí hôi thối rất khó chịu: “Để thêm điện thoại di động, cái đồng hồ Seiko, bộ đồ vét và cái bằng tốt nghiệp đại học của anh lại. Giữ hộ thôi mà!”.
Nỗi khát khao tìm hiểu thiên hạ lấn át sự tự ái thông thường. Sau một hồi cò kè bớt một thêm hai, anh quyết giữ lại cái điện thoại di động thời cổ xưa to như một cục gạch.
Đây là kỷ vật bạn gái anh tặng. Phụ nữ thật kỳ quặc. Không hiểu nổi. Tặng điện thoại cho người ta lại không chịu gọi qua điện thoại. Cứ viết thư trên giấy trắng xé ra trong vở học trò... Anh chạy xe nhông nhông suốt ngày đêm. Đụng tụi lưu manh đứng bến. Bị đòn nhừ tử. Đụng dân lừa gạt có hạng. Mất toi nửa ngày trời và 20.000đ tiền xăng, 10.000đ tiền vá ruột. Nhưng cũng gặp được nhiều người tốt bụng.
Bạn gái của anh lại gửi thư, kể chuyện cây bàng phố đầu cầu đã bắt đầu xanh lá và nước sông đã trong trở lại. Rồi lại dặn khi chạy xe phải chú ý luật giao thông, vội mấy cũng không được vượt đèn đỏ, chạy ngược chiều. Lại dặn đừng có xem giờ ở nhà bên đường, dễ bị phân tâm lạc tay lái đâm vào người ta...
Anh thẫn thờ bâng khuâng. Nhìn phía chân trời. Mây cồn trắng xốp. Từ hình núi non, bỗng biến thành hình người. Sao giống đá Vọng phu vậy. Người phụ nữ ngóng trông nơi xa. Chờ người yêu, chờ chồng! Buồn quá đi thôi...
Bạn gái anh vai ngang, lưng thẳng, cấu trúc cân đối nghiêm trang. Một cô giáo dạy toán, không biết quát nạt, không biết đùa bỡn, không hát to được nhưng hát thầm rất hay.
Lâu rồi anh không gặp cô ấy! Học chung lớp với nhau 3 năm trung học. Cô ấy học giỏi hơn anh nhưng chỉ xin đăng ký hai nguyện vọng: Đại học Sư phạm và Cao đẳng Sư phạm.
“Em thích nghề dạy học!”, cô nói thầm, như hát. Anh kéo cô ép sát vào mình. Vai kề vai. “Em đẹp lắm!”. Hồi hộp và run rẩy. Tiếng nói nhẹ hều thảng thốt như gió lạc sau vườn. “Anh nói gì?”. Giọng run như tiếng sóng ngoài xa. “Mùa đông đến rồi. Trời đã lạnh!”. “Cái lạnh ngọt ngào!”. Sóng sông vỗ bờ, gió nhẹ theo thác và xào xạc lá khô rơi. Âm điệu của sự khởi đầu một mối tình trong trẻo. Mới chỉ có thế...
Anh làm thơ. Bài thơ “Cái lạnh ngọt ngào”. Ông nhà thơ phụ trách trang văn nghệ khen “Được đấy! Có nét riêng”. Nhuận bút ít nhưng nhiều niềm vui. Thêm vài bài báo được đăng. Tòa soạn vẫn không nói gì về ký hợp đồng. Vẫn bảo: “Tiếp tục cộng tác nhé!”.
Một đêm nọ, có người khách say xỉn quên đường về nhà. Cái xe gắn máy sang trọng và toàn bộ tư trang tiền bạc của ông ta đang là mồi ngon cho bọn lưu manh về đêm. Anh can thiệp kịp thời. Tạt nước, thọc lét cho ông ta tỉnh lại, đưa ông ta về nhà giao cho vợ con. Ông chủ công ty xây dựng, kinh doanh nhà đất này cảm ơn nghĩa cử của anh, mời anh cộng tác. Lương tháng 2 triệu đồng.
“Chú em làm trợ lý cho anh. Anh giao việc gì chú em làm việc ấy. Không có việc, chú em cứ viết báo, làm thơ. Bao giờ người ta ký hợp đồng, chú em thôi làm việc cho anh, lúc nào cũng được”. Ông ta là người biết giữ chữ tín. Công việc của anh là làm hồ sơ, lập dự án, tiếp xúc với các cơ quan công quyền để xin giấy phép, giấy chứng nhận. Anh có dịp tiếp xúc thường xuyên với bộ máy hành chính. “Thiên hạ đúng là chìm, nổi!”. Anh cảm thán thốt lên, chiêu đãi ông chạy xe ôm ở cùng nhà chầu bia Tiger.
Thêm một năm nữa trôi qua đi! Anh có vốn kiến thức khá phong phú về kinh doanh nhà, đất. Có xe Honda đời mới. Có máy vi tính, tivi và lúc nào trong túi cũng rủng rỉnh dăm ba trăm ngàn. Mơ ước làm báo vẫn sôi sục. Tờ báo chưa ký hợp đồng nhưng đã có chế độ cộng tác viên thân thiết. Mỗi tháng anh được trợ cấp 200.000 đồng.
Bạn gái anh lại viết thư, kể chuyện cây bàng phía đầu cầu tự nhiên có thêm một nốt sần nổi ở gần giữa thân cây...
Anh gọi điện về, nạt nộ: “Này, hết chuyện rồi sao, cái nốt sần ở cây bàng có ý nghĩa gì hả?”.
“Có thể nó bị bệnh, hay bắt đầu già!”.
“Vớ vẩn!”. Anh tắt máy. Đang trong thời làm ăn gay cấn nghiệt ngã. Anh không có thời gian nói chuyện nhớ nhung viển vông. Cuối mùa mưa, ông chủ công ty đã bị “con ngựa thị trường” hạ đo ván, phải thanh lý tất cả để trở về với điểm lập nghiệp khởi đầu.
“Không sao! Thua keo này, bày keo khác”. Ông tổ chức bữa tiệc liên hoan xóa sổ công ty. Ăn uống thỏa thuê, hát karaoke thoải mái. Suốt từ chiều cho tới nửa đêm. Anh ngạc nhiên hỏi “Ông là người lạc quan!”. Ông ta cười, vỗ bụng nói lớn: “Ta là người biết quy luật”.
Ông chạy xe ôm nói: “Ông ta đã ngộ được cái đạo “đại tự tại” của kiếp làm người”. Dù đã giàu có, sang trọng hơn, anh vẫn tiếp tục ở chung nhà với ông chạy xe ôm, người vùng quê xứ Bắc, cha của ba đứa con đang tuổi đi học. “Thế nào là đại tự tại?”. Anh tò mò hỏi. “Thứ đạo này cao ngàn trượng cũng chưa hết. Ngắn vài phân cũng là vừa. Nói tóm lại là đạo của riêng mình. Đạo làm chủ mình, cần tan phải tan, cần hợp phải hợp. Tan cũng là mình, hợp cũng là mình, không phải của người khác”.
Ông học dở lớp 5 hệ phổ thông 10 năm ở ngoài Bắc. Từng làm công nhân lái xe ủi. Không biết ngoại ngữ, vi tính nhưng giỏi nghề điện, máy và thích đọc sách báo. Anh thấy ông chạy xe ôm và cái đạo “đại tự tại” của ông ta hay hay, ngồ ngộ. Thế thôi!...
Mùa xuân lại đến! Có cô gái, con một vị quan chức cao cấp chủ động nói với
anh: “Em thích anh!”. Anh cũng thích cô gái hồn nhiên trong sáng bé nhỏ như một hạt sương trên cánh hoa. “Anh cũng thích em lắm!”.
Một tương lai tươi sáng được phác thảo.
Anh sẽ kết hôn với hạt sương long lanh kia và sẽ làm việc ở một tờ báo lớn. Vị quan chức “có sức mạnh” ngỏ ý giúp anh: “Tiếng nói của tôi là thêm một biên chế cho cậu”. Ông ta nói nghiêm túc. Con người này không có tiếng nói thừa...
Tuổi 30 đã tới. Anh lại tư lự nhìn trời xa. Mây chiều lễnh loãng. Khối hình vu vơ. Buồn nhớ mông lung. Say không ra say. Tỉnh không ra tỉnh. Nhức mỏi quá, trời ơi! Tòa soạn vẫn không có ý kiến dứt khoát về việc ký hợp đồng với anh. Chỉ tiêu biên chế là một rào cản. Ráng chờ đợi thêm...
Ông chạy xe ôm cẩn thận xếp từng đồng tiền vào ví. Ví tiền của ông chia làm ba ngăn. Ngăn tiền lớn, ngăn tiền nhỏ và ngăn tiền cực nhỏ. Ông uống thêm ba viên vitamin C. Lấy sức để đua tranh với thiên hạ kiếm chiếc vé tàu hỏa về quê ăn Tết. Mỗi năm một lần. Ông về quê khoảng nửa tháng. Mang tiền về để lo chuyện học hành con cái. Kiểm tra lại nhà cửa, đất đai. “Cũng là để bà ấy biết còn có một người gọi là chồng...”. Ông cười hể hả. Vui sướng ra mặt! “Vậy là phải có người để ta gọi là vợ!”. Anh hỏi. Thẫn thờ. Đăm chiêu. Ông chạy xe ôm hát bài: “Bèo dạt mây trôi, chốn xa xôi...”. Ông trẻ lại đến chục tuổi.
Còn anh, bỗng nhiên cảm thấy già đi đến chục tuổi. Câu hát thầm của người bạn gái nơi gốc bàng phố đầu cầu da diết đâu đây “Đường đời xuôi ngược bao gió mưa, con thuyền trôi...”.
Thư của bạn gái anh viết: “Dưới nốt sần một gang tay của gốc cây bàng lại xuất hiện một vết lõm có nhiều kiến, mối bu bám! Em lo lắm, anh à!...”.
Đột nhiên anh nhận thấy từ trong nhịp đập trái tim mình tiết tấu “Hành khúc Thổ Nhĩ Kỳ” lại vang lên. Sứ mệnh trở thành một vĩ nhân hiển hiện thành một khối hình chắc chắn.
“Cháu cùng bác đi mua vé về quê”.
“Cậu cũng về!”.
“Phải”.
“Về làm gì?”.
“Cưới vợ!”. “Cưới ai?”. “Cây bàng ở đầu cầu!”. “Hiểu rồi, tốt!”.
Ông chạy xe ôm đưa cho anh hai viên vitamin C: - Uống đi cho có sức. Nói cho cậu biết, mua vé tàu tết còn khó khăn hơn hồi tôi vượt dốc ông Thanh ở đường Trường Sơn”. Anh kinh ngạc! Không thể ngờ được, người đàn ông xương nhiều hơn thịt lúc nào cũng so đo tính toán từng đồng bạc cắc lại là một chiến binh dũng mãnh vượt Trường Sơn. Anh mời ông đi nhậu thịt chó với rượu Tây thứ thiệt, thay vì uống vitamin C.
“Năm năm sống chung một nhà, sao chẳng bao giờ bác kể chuyện ngày xưa ở chiến trường?”. Anh trách cứ! Ông tư lự, xa xăm: “Tâm tình đâu dễ nói ra. Gặp tri âm mới thoát ra tâm tình...”.
Rồi ông cựu chiến binh thủng thẳng giảng giải cho anh biết ăn thịt chó thế nào cho ngon. Phải chọn chiếc lá mơ còn mềm, xanh lợt, gắp miếng thịt luộc bỏ vô, ngắt một cọng rau ngổ đả (ngò gai), một cọng húng lá bỏ vô rồi cuộn lại cho chặt, sau đó chấm mắm tôm cho vô miệng, nhai mạnh mấy cái đầu rồi cắn một miếng riềng. Nhai từ tốn. Cái ngon trong thiên hạ dồn chứa hết ở đó... Chưa bao giờ anh thấy ông nói nhiều như thế. Ông bảo đời ông chưa có điều gì phải ân hận.
Ông luôn luôn yêu mến cái thiên hạ chìm nổi này. Ông làm tròn bổn phận của mình ở các công việc. Và, cái quan trọng nhất trong kiếp sống làm người ông luôn giữ được chính mình, một người dân bình thường lương thiện. Đêm ngủ không gặp ác mộng, ra đường không sợ công an, đến cơ quan không sợ thủ trưởng, về nhà không sợ vợ. Có tiền nhiều tiêu nhiều, có ít tiêu ít. Trong ấm ngoài êm là đủ rồi. Thương người là thương mình. Kính người là kính mình...
Sau cuộc nhậu, đến 10 giờ tối anh và ông chạy xe ôm ra ga xếp hàng. Phải ngủ qua đêm ở nhà ga để sáng sớm có thể có chỗ mua vé tàu. 11 giờ đêm anh gọi điện về. Bạn gái anh đang chấm bài cho học sinh. Anh bảo: “Anh yêu em. Anh phải cưới em trong dịp tết này. Em có đồng ý không?”.
Không thấy trả lời. Anh phân vân hỏi ông bạn già sống trọ cùng nhà, cùng đường đi, cùng xếp hàng mua vé: “Vậy là sao?”. Ông này gật gù bảo: “Thế là tốt rồi, tốt rồi!...”. Ông ngủ ngồi để giữ chỗ lấy ticket... Anh không ngủ được, nhìn lên trời cao, hát câu dân ca ở quê mình. “Đường đời xuôi ngược, bao gió mưa, con thuyền trôi...”. Về đêm, trời lạnh. Và anh thấy cái lạnh ngọt ngào...
TRẦN VĂN TUẤN