Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết số 23), kiến tạo một hành lang pháp lý mới, tháo gỡ những vướng mắc về thủ tục hành chính, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút người tài ở nước ngoài trở về cống hiến cho đất nước.
Gỡ điểm nghẽn thủ tục
Tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị (vào ngày 3-9 vừa qua), trình bày những nội dung trọng tâm, cốt lõi của Nghị quyết số 23, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung khẳng định, nghị quyết giúp khơi dậy mạnh mẽ lòng yêu nước, khát vọng cống hiến và phát huy nguồn lực của kiều bào.
Thực tế, dù sở hữu nguồn lực trí tuệ lớn, nhiều người Việt Nam ở nước ngoài vẫn gặp những rào cản hành chính khiến mong muốn trở về nước khó thành hiện thực. Năm 2016, mang theo tình cảm và khát vọng đưa công nghệ tiên tiến phục vụ quê hương, PGS-TS Bùi Quốc Bảo (kiều bào Pháp) trở về TPHCM giảng dạy tại Trường Đại học Tôn Đức Thắng. Ông trực tiếp tham gia nghiên cứu khoa học, đào tạo sinh viên từ bậc đại học đến tiến sĩ và thiết lập nhiều mối quan hệ hợp tác quốc tế.
Từ thực tế làm việc, PGS-TS Bùi Quốc Bảo nhận xét, vướng mắc cốt lõi hiện nay là nhiều quy định hiện hành chưa tương thích với đặc thù của nhân lực chất lượng cao. Chẳng hạn, nhiều chuyên gia, nhà khoa học tốt nghiệp hoặc được phong hàm giáo sư, phó giáo sư tại các cơ sở quốc tế uy tín nhưng khi về Việt Nam vẫn phải gặp khó khăn khi làm thủ tục công nhận văn bằng. Vì vậy, cần cơ chế công nhận linh hoạt dựa trên uy tín của cơ sở khoa học quốc tế và thành tựu thực tế của chuyên gia.
Ngoài ra, theo PGS-TS Bùi Quốc Bảo, chính sách thu hút nhân tài không nên tập trung vào tiền lương. Đối với nhà khoa học, môi trường làm việc mang ý nghĩa quyết định. Đó là quyền chủ động về chuyên môn, thủ tục giải ngân và mua sắm thiết bị được tối giản, đặc biệt là một hệ sinh thái chấp nhận rủi ro, khuyến khích các ý tưởng đột phá.
Định nghĩa về “thu hút nhân tài” cũng cần được mở rộng. Không nhất thiết phải đưa chuyên gia về nước toàn thời gian. Các mô hình linh hoạt (như làm việc ngắn hạn, tư vấn từ xa, đồng chủ trì dự án hoặc chuyển giao công nghệ) hoàn toàn khả thi trong thời đại số.
Qua thực tế kết nối chuyên gia và doanh nghiệp Việt Nam - Hàn Quốc, TS Trần Hải Linh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nhân và Đầu tư Việt Nam - Hàn Quốc (VKBIA), cho biết ông từng gặp những trường hợp đối tác, chuyên gia rất quan tâm và mong muốn hợp tác tại Việt Nam, nhưng quá trình triển khai mất nhiều thời gian vì phải làm việc với nhiều đầu mối khác nhau.
Trong khi đó, ở lĩnh vực công nghệ, thời gian chính là cơ hội. Một dự án về trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay đổi mới sáng tạo nếu mất 1 hoặc 2 năm để hoàn thiện các quy trình thì khi được triển khai, công nghệ có thể đã bước sang một thế hệ khác.
Từ đó, TS Trần Hải Linh bày tỏ mong muốn, khi một chuyên gia được xác định thuộc diện nhân tài chiến lược thì sẽ có một đầu mối duy nhất hỗ trợ chuyên gia này từ khi quyết định đến Việt Nam cho tới khi bắt đầu làm việc; có thời hạn xử lý hồ sơ rõ ràng và các vấn đề về cư trú, giấy phép lao động, thuế, công nhận bằng cấp, nhà ở, y tế, giáo dục cho con cái được phối hợp xử lý đồng bộ.
Chiến lược quản trị mạng lưới nhân tài
Tại buổi làm việc với Đảng ủy Chính phủ về chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới (ngày 24-8), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu nghiên cứu ban hành “Thị thực nhân tài Việt Nam”. Việc này đi kèm quy trình một cửa, minh bạch và có thời hạn xử lý rõ ràng, giải quyết đồng bộ các thủ tục, chính sách về tiền lương, cư trú, lao động, thuế, nhà ở, y tế, giáo dục và công nhận trình độ cho nhân tài và gia đình.
TS Đào Hưng, giảng viên Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TPHCM, trở về từ Hàn Quốc qua chương trình thu hút các nhà khoa học trẻ xuất sắc, nhà khoa học đầu ngành về công tác tại Đại học Quốc gia TPHCM (VNU350) năm 2025, cho rằng đây là cách tiếp cận mà hầu hết các quốc gia trong khu vực đang sử dụng trong cuộc đua giành nhân tài quốc tế.
Có thể kể tên những mô hình điển hình: chương trình K-Tech Pass của Hàn Quốc dành cho chuyên gia công nghệ; J-Skip của Nhật Bản dành cho lao động chất lượng cao; ONE Pass của Singapore dành cho các nhân sự cấp cao trong các lĩnh vực chiến lược. Do đó, việc Việt Nam nghiên cứu một chương trình tương tự (tạm gọi “V-Special”) là hướng đi chiến lược.
Theo TS Đào Hưng, để thực hiện chương trình này, nếu chỉ dựa vào các công cụ về đãi ngộ tài chính và cải cách thủ tục hành chính thì không thể vượt Singapore về đãi ngộ hay vượt UAE về ưu đãi thuế, và cũng khó vượt qua Hàn Quốc, Nhật Bản về hạ tầng nghiên cứu. Việt Nam cần tiếp cận đầy đủ theo góc độ “nhân” và “tài”. Cụ thể, “nhân” là tận dụng lợi thế về văn hóa, gia đình và khát vọng cống hiến - một điểm tựa đặc biệt để thu hút trí thức kiều bào; còn “tài” là năng lực giải quyết đúng những bài toán thực tiễn Việt Nam đang cần, chứ không chỉ là danh hiệu hào nhoáng. Qua đó tạo sức hấp dẫn thật sự trên thị trường nhân tài toàn cầu.
Ông Nguyễn Vũ Minh Hoàng, Tổng Thư ký Hội Liên lạc người Việt Nam ở nước ngoài TPHCM, gợi ý thành phố nên thành lập trung tâm điều phối nguồn lực kiều bào và nhân tài quốc tế. Đây sẽ là đầu mối điều phối để kết nối cộng đồng kiều bào, chuyên gia quốc tế với các lĩnh vực mà thành phố đang cần nguồn lực. Trung tâm này sẽ đóng vai trò “nhạc trưởng”; khi có cơ sở dữ liệu nhân tài, xác định nhu cầu của thành phố, trung tâm sẽ tìm kiếm chuyên gia phù hợp, kết nối với doanh nghiệp, trường đại học, viện nghiên cứu.
Ngoài ra, thành phố cần xây dựng “bản đồ nhân tài Việt Nam toàn cầu” để chủ động đặt hàng nhân tài theo những bài toán phát triển cụ thể của thành phố; chuyển từ việc chờ người tài tìm đến sang chủ động tìm đúng người.
* TS BÙI NGỌC HIỀN, Học viện Cán bộ TPHCM:
Trao quyền cho người tài
Luật Phát triển đô thị có các cơ chế, chính sách thu hút, trọng dụng và phát triển nhân tài để giúp thành phố có nguồn nhân lực quốc tế. Để thực hiện các cơ chế, chính sách này, TPHCM cần trao quyền thực sự và tối đa cho những người có tài năng về nhân sự, tài chính, sở hữu trí tuệ; thương mại hóa các kết quả nghiên cứu, ý tưởng sáng tạo cũng như sử dụng các nguồn lực phục vụ cho nghiên cứu, triển khai ý tưởng.
Chuyển trọng tâm trong quản lý, đánh giá dựa trên đo lường kết quả kinh tế - xã hội, kết quả thực nghiệm các sản phẩm nghiên cứu, sản phẩm công nghệ, ý tưởng sáng tạo. Bên cạnh đó, cần phá bỏ các rào cản cơ chế và xây dựng môi trường tôn trọng sáng tạo thực sự trong mọi loại hình tổ chức để khuyến khích đổi mới sáng tạo, phát hiện, “nuôi dưỡng” người có tài năng trên các ngành, nghề, lĩnh vực một cách chủ động, từ sớm, từ xa. Chính sách đãi ngộ cần được tiếp cận, thiết kế lại để có thể kiếm tìm được những tài năng giải quyết các bài toán phát triển cho thành phố.
* Ông TRẦN THẮNG, kiều bào Hoa Kỳ, kỹ sư hàng không:
Cần nhiều mạng lưới kết nối
Theo thống kê năm 2022, có khoảng 2,2 triệu người Việt tại Hoa Kỳ, trong đó hơn 260.000 người có bằng sau đại học. Số người tinh túy ước tính khoảng 80.000 người, có mặt trong hầu hết các lĩnh vực. Nhưng đa số người Việt thành đạt tại Hoa Kỳ lại không sinh hoạt trong cộng đồng người Việt. Nếu không có các mạng lưới kết nối thì không thể tiếp cận giới tinh túy, không thể truyền đạt thông tin về Việt Nam và khơi dậy sự gắn bó với quê hương, cội nguồn trong họ.
Thực tế, số chuyên gia, trí thức kiều bào Hoa Kỳ về làm việc tại Việt Nam rất nhỏ. Để thu hút nhân tài tốt hơn, phải tìm được điểm chung giữa chuyên gia, trí thức kiều bào và nhu cầu thực tế trong nước. Trong đó, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo chính sách, nhưng “bến đỗ” chính của nhân tài nằm ở khối doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Chừng nào chưa xác định được “bến đỗ” tiếp nhận rõ ràng, sẽ chưa xây dựng được mô hình thu hút chuyên gia, trí thức kiều bào.