Nhà văn Đỗ Chu
Ao làng, Thung lũng cò, Hương cỏ mật, Mùa cá bột… những tác phẩm đầu tay của Đỗ Chu đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội vào hai năm 1962-1963. Thời gian ấy Phạm Tiến Duật, Nghiêm Đa Văn, Tô Nhuận Vỹ, Vương Trí Nhàn… đang còn là sinh viên năm thứ 2 Khoa Ngữ văn Trường Đại học Sư phạm Hà Nội. Những truyện ngắn ấy đầy chất kích thích những chàng trai học làm nghề giáo như mong trở thành nhà thơ, nhà văn. Họ càng ngạc nhiên khi phát hiện ra Đỗ Chu mới 17 tuổi và mới khoác áo lính của quân chủng Phòng không- Không quân chưa bao lâu.
Chiến tranh chống Mỹ cứu nước diễn ra, ngay lập tức tờ Tạp chí Văn nghệ Quân đội bỗng trở thành một trung tâm văn bút không chỉ thu hút các nhà văn đã khẳng định tên tuổi mà còn là nơi “lăng-xê” kịp thời sáng tác của những người viết mới xuất hiện.
Dường như với ảnh hưởng của Đỗ Chu, ở quân chủng Phòng không – Không quân xuất hiện cả một loạt những cây viết khác như Nguyễn Trí Huân, Lưu Quang Vũ, Thao Trường (tức Nguyễn Khắc Trường sau này), Dương Duy Ngữ, Duy Khán...
Đỗ Chu được các nhà văn đàn anh tại Văn nghệ Quân đội như Hồ Phương, Hữu Mai, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Hải Hồ, Mai Ngữ… đón nhận như một đồng nghiệp ngang ngửa văn tài.
Tác giả của bài báo này từng được chứng kiến giây phút hai “thủ lĩnh” của tờ Văn nghệ Quân đội là Vũ Cao và Từ Bích Hoàng vẻ đầy tự hào, mãn nguyện mỗi khi “khoe” số báo mới bên cạnh bài “đinh” của Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu... là bài “đinh” của Đỗ Chu. Nói đến sinh hoạt, cách thức ăn nói, yêu đương, tâm lý nhớ quê hương của đám lính trẻ, không ai kể hay, kể sinh động, tươi tắn như Đỗ Chu trong Chiến sĩ quân bưu, Thành phố bên kia cầu, Chuyện mùa hạ…
Tập tùy bút “Thăm thẳm bóng người” NXB Hội Nhà văn 2008.
Bạn viết cùng trang lứa thì không một ai dám coi anh chỉ có học vấn phổ thông. Đỗ Chu đọc nhiều, sức nhớ tốt, lại biết khái quát, đúc rút rất nhanh điều đã đọc thành vốn liếng của riêng mình.
Nhà văn Nguyễn Khải từng nói, tài năng của người viết là ở chỗ anh ta biết gọi tên của từng hiện tượng, sự việc mà người khác không thể, hoặc không có năng lực ấy. Về phương diện này Đỗ Chu nổi trội. Anh quan sát tinh tường, sắc sảo thế giới xung quanh và tóm thành chi tiết văn chương để đưa vào tác phẩm.
Gió từ trên núi dịu dàng thổi xuống, những cây tre đực trên lũy cọ vào nhau kêu ken két như có ai cầm mảnh sành chém vào đấy… /Sau làng em có trái núi Voi, núi Voi đối với tụi nhỏ chúng em như người bạn lớn tuổi, hiền từ… /Cái đỉnh tháp chuông nhà thờ nom xa như một dấu than…
Điều đáng kể, anh có một trí tưởng tượng nhanh nhạy, khoáng hoạt không ai bì. Xin được kể chuyện này: Một lần, trại sáng tác nọ bố trí ở một kho chứa các nguyên vật liệu thông tin của quân đội ngay sát bên trạm khí tượng Láng, Hà Nội. Suốt ngày tiếng đóng mở hòm gỗ ồn ã, tiếng xe tải đến, đi rú ga đến inh tai nhức óc, tiếng các nhân viên coi kho nói cười oang oang. Nhưng bên kia bức tường lại là vẻ ắng lặng của khu vườn đo mưa, đo gió với bóng áo trắng của các cô gái nhân viên trạm khí tượng.
Đỗ Chu gọi các bạn viết của trại đến thách đố hãy viết một truyện ngắn bằng những gì mắt thấy tai nghe. Kết cục: người thắng cuộc không ai khác mà chính là Đỗ Chu – anh đã viết nên truyện ngắn “Chuyện mùa hạ” khá nổi tiếng sau này. Tiếng lách cách mở đóng hòm gỗ thành tiếng gõ mạn thuyền lùa cá trên sông. Tiếng xe vào, xe ra thành tiếng rì rầm của những đoàn xe kéo pháo. Còn đóng vai trò khá quan trọng ở cái thị xã trống hoang trống huếch kia chính là các cô gái đo mưa đo nắng, không đi sơ tán mà ở lại tử sinh với bom đạn Mỹ...
Đọc văn của Đỗ Chu ai chẳng tưởng rằng chữ nghĩa, câu cú cứ tuồn tuột chảy ra từ ngòi bút của anh. Thực ra anh viết hệt như đánh vật với từng con chữ.
Xin kể tiếp mẩu chuyện nữa. Khi Chuyện mùa hạ đã hoàn tất, Đỗ Chu tuyên bố anh có thể đọc thuộc từ trang đầu đến trang cuối truyện ngắn đó mà không sai sót một dấu chấm, dấu phẩy. Anh em trại viên quây thành vòng. Lê Lựu cầm tập bản thảo trong tay làm giám khảo. Đỗ Chu chắp tay sau lưng đi đi, lại lại và bắt đầu đọc bằng trí nhớ. Chỉ cần đến trang thứ 20, Lê Lựu phải tuyên bố Đỗ Chu đã thắng cuộc!
Khoảng chục năm trở lại đây, nhà văn Đỗ Chu như chuyên tâm vào thể tùy bút, đã được NXB Hội Nhà văn VN tập họp in thành mấy tập như “Suy nghĩ trước đèn”, “Thăm thẳm bóng người”... Vẫn là những rung động sâu lắng, những quan sát tinh tế, sự kỹ càng trong lựa lọc câu cú, chữ nghĩa, tài năng bật nẩy những liên tưởng đúng lúc đúng chỗ, kết dính được những liên tưởng ấy lại với nhau. Và cả tài năng từ những liên tưởng của riêng mình làm bật tung những liên tưởng đồng vọng trong bạn đọc...
Ngòi bút Đỗ Chu luôn hướng về việc ca ngợi con người nói chung, những phẩm giá tốt đẹp trong quan hệ giữa con người với con người nói riêng. Đó là nét hiện thực cơ bản, tạo nên sức mạnh tinh thần của người dân miền Bắc trong thời kỳ vừa dựng xây chủ nghĩa xã hội vừa chiến đấu, tích cực chi viện sức người sức của cho miền Nam ruột thịt. Cũng như thơ của Phạm Tiến Duật, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ… các ca khúc trữ tình của Huy Du, Huy Thục, Doãn Nho, Vũ Trọng Hối, Nguyễn Đức Toàn, Xuân Hồng, Phạm Minh Tuấn… các vở kịch, các bộ phim, truyện ngắn của Đỗ Chu không chỉ cổ súy, động viên đồng bào chiến sĩ vào những năm tháng chiến tranh, mà còn lưu giữ mãi giá trị của việc phản ánh tình người, tinh thần cao thượng và sức hy sinh chịu đựng của cả dân tộc ở một khúc ngoặt lịch sử. |
Tô Hoàng