Trải dài theo những năm tháng cách mạng, đặc biệt là trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, xuất phát từ quan điểm sáng suốt và chính xác về con người nên Bác và Đảng ta rất quan tâm tới công tác giáo dục. Nhân tố con người là nhân tố quyết định sự thắng lợi của cuộc đấu tranh, cũng là nhân tố mà chúng ta có thể chủ động trong việc xây dựng và phát triển để tích lũy tiềm lực cho cách mạng so với những nhân tố khác, chẳng hạn như vũ khí, kỹ thuật.
Ở miền Nam kể từ khi ngừng chiến theo Hiệp định Geneva, giáo dục kháng chiến thời chống Pháp vẫn được tiếp tục duy trì ở nhiều nơi (mức độ và hình thức có biến hóa, chuyển đổi) và tiếp nối nó là giáo dục giải phóng thời kháng chiến chống Mỹ.
Ở miền Nam với đội ngũ nhà giáo kháng chiến đầy trách nhiệm và tâm huyết. Có các nhà giáo đã tham gia kháng chiến chống Pháp, các nhà giáo đi B, trong đó có nhiều người quê ở miền Nam và các nhà giáo quê ở miền Bắc vào Nam phục vụ.
Những nhà giáo đi B đã được Ban Tổ chức Trung ương lựa chọn rất kỹ. Qua các lớp học tập ở Bộ Giáo dục rồi Ban Thống nhất Trung ương. Tuyệt đại đa số các nhà giáo đi B có tinh thần rất cao. Người mong sớm được về quê hương phục vụ bà con, người mong thể hiện được tình cảm “Tất cả vì miền Nam thân yêu”, trong số những người xung phong vào Nam dạy học, có đồng chí xung phong nhiều lần mới được đi.
Tính từ tháng 5-1961 đến tháng 12-1974, đã có 31 đoàn giáo viên được cử vào Nam công tác, với số lượng là 2.752 người, trong đó có 14 đoàn vào Nam bộ.
Trong giáo dục kháng chiến chúng ta rất coi trọng việc xây dựng đội ngũ nhà giáo, đào tạo giáo viên địa phương. Những cán bộ giáo viên trong Đoàn K33 vào tới Tiểu ban giáo dục R cuối mùa xuân 1965 là một đội ngũ được chuẩn bị cho việc mở Đại học Sư phạm khi kết thúc chiến tranh đặc biệt. Một số cán bộ khung của các trường sư phạm cũng được đưa vào các địa phương để chuẩn bị mở trường khi tổng tiến công và nổi dậy Mậu Thân đạt kết quả. Nhưng do diễn biến phức tạp của tình hình, kế hoạch này đã không thực hiện được. Tuy vậy, ở Miền đã có trường sư phạm cấp II Miền, các khu, các tỉnh đều có các trường, lớp sư phạm cấp I và cấp II.
Theo thống kê chưa đầy đủ, đã có gần 700 nhà giáo kháng chiến hy sinh, trong đó có trên 100 nhà giáo đi B. Tiếc thương quá, đau xót quá vì nhiều tài năng trẻ đã sớm ra đi. Bốn mươi năm sau khi vào Nam, Nguyễn Khoa Điềm viết:
“Không ai biết cuộc chiến đấu dữ dội đến nhường ấy
Không ai biết máu chảy đến nhường ấy”
Thời đó còn có những nhà giáo được động viên vào quân đội rồi gia nhập quân giải phóng trực tiếp cầm súng chiến đấu với nhiệm vụ của một chiến binh. Theo thống kê chưa đầy đủ, có 1.247 chiến sĩ nguyên là thầy giáo đã hy sinh (Báo GD-TĐ đã công bố danh sách năm 1997).
Chiến tranh ác liệt mà vẫn làm được giáo dục, vì sao vậy? Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, giáo dục vẫn được duy trì và vào những thời gian, ở những không gian thích hợp nó còn được phát triển, vì lẽ giáo dục gắn chặt với nhân dân, nhà giáo liên hệ chặt chẽ với quần chúng.
“Hai vai kiếm bút, giáo viên cùng bộ đội xông pha
Một dạ sắt son, trường học với dân thôn gắn bó”
Thương yêu con trẻ (nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh) và gắn bó với nhân dân là bí quyết thành công của hoạt động giáo dục trong kháng chiến. Vấn đề tưởng là xưa nhưng tôi nghĩ vẫn là mới đối với giáo dục hiện nay.
Nhân ngày Nhà giáo Việt Nam, tôi ghi những dòng này để nhớ tới những gương sáng và sự hy sinh của các nhà giáo một thời oanh liệt sáng trong, mong sao:
Đạo làm thầy mãi mãi nêu cao
Gương trí thức đời đời sáng tỏ
Như lời kết bài văn Bia tưởng niệm liệt sĩ giáo dục đã ghi.
PHẠM THANH LIÊM