Hoa quao nước

Hoa quao nước

Không mấy khó khăn lắm, qua tổng đài 1080, sau vài cú điện thoại, tôi cũng tìm ra số điện thoại của cơ quan chị. Thú thực, lúc đầu khi chưa gặp chị, tôi cứ nghĩ sắp tới đây mình sẽ được mục kích, phỏng vấn một “ông” giám đốc dược sĩ Lê Ngọc Bền nào đó. Ai ngờ khi gặp cô nhân viên trực, mặt tôi thộn ra, tai cứ ù lên:

- Ở đây chỉ có chị Bền dược sĩ giám đốc thôi, chứ không có ai là anh Bền cả.

Chị tiếp tôi tại phòng khách bệnh viện. Dáng người nhỏ nhắn, hoạt bát, trang phục nhã nhặn, gương mặt lộ vẻ thông minh, sắc sảo, thêm một chút đôn hậu, duyên dáng của người phụ nữ miền sông nước Nam bộ, làm nên con người chị một sự hài hòa giữa tính cách và hình dáng. Tôi cảm thấy ấm áp và bình tĩnh trở lại, cho dù đây là lần đầu tiên gặp chị.

Hoa quao nước ảnh 1

Quê chị ở Châu Đốc - An Giang, một vùng lúa trù phú của châu thổ sông Cửu Long. Sinh ra trong một gia đình cách mạng, cả bố và mẹ chị đều là cán bộ của Trung ương Cục miền Nam. Tuổi thơ của chị gắn liền với cả một thời kỳ dông bão của cách mạng. Năm 1962, bước vào tuổi mười ba, chị được Ban thống nhất trung ương đưa ra miền Bắc học tập.

Ra Bắc, chị vào học tại Trường học sinh miền Nam số 13 ở Hải Phòng. Năm 1969, chị thi đỗ loại ưu vào Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và được chọn đi học tại Trường Đại học-y-Dược Bucarest – Romania để rồi sáu năm sau chị trở về nước với bằng tốt nghiệp cũng loại ưu giữa lúc niềm vui non sông đất nước liền một dải, Tổ quốc sạch bóng quân thù.

Về đến Hà Nội, chị đáp tàu vào Nam, lên thẳng làng Đại học Thủ Đức, lúc đó cơ quan Trung ương Cục miền Nam vừa mới được chuyển về đây. Một phút sững sờ, ngờ ngợ nhìn nhau rồi tất cả ôm chầm lấy, hết má rồi ba, hết ba rồi má; người chị như tan ra trong nước mắt - giọt nước mắt của sự thấp thỏm, âu lo, chờ đợi sau mười ba năm trời đằng đẵng vừa mừng vừa tủi, mà hạnh phúc biết bao.

Thăm ba má ít ngày, chị quay ra Bắc nhận quyết định chuyển thẳng vào Nam. Sài Gòn sau giải phóng, bộn bề bao việc phải làm. Chị lao vào công việc không chỉ là lòng say mê, nhiệt thành, khát vọng cống hiến của tuổi trẻ mà như là muốn bù đắp, muốn đền ơn, trả nợ một điều gì đó.

Năm 1980, chị được điều về làm trưởng khoa dược Bệnh viện Y học dân tộc. Trước đây, nơi này là nhà bảo sanh của ông Trần Đình Đệ, Bộ trưởng Y tế ngụy, chuyên phục vụ các quý bà trong dinh Độc Lập và vợ các vị tai to mặt lớn chế độ ngụy quyền.

Việc chữa bệnh bằng y học cổ truyền thời gian này chưa mấy ai tin tưởng, trong dân đã thành thói quen dùng thuốc tây khi ốm đau, chứ ít khi dùng thuốc Nam, mà có chăng người ta cũng thấy cầu kỳ, rườm rà vì hiệu quả đâu phải một sớm một chiều nhìn thấy ngay được.

Chị đã cùng lãnh đạo bệnh viện bàn bạc xây dựng một chiến lược phát triển mang tính đột phá. Tìm kiếm, mời gọi các đông y giỏi ra làm việc, có chế độ đãi ngộ xứng đáng, đồng thời đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, đúc kết các kinh nghiệm, bổ sung đưa ra các chứng lý, cơ sở dữ liệu cụ thể làm phong phú thêm những bài thuốc cổ truyền trong dân gian. Từng bước hoàn thiện cơ sở vật chất, đi đôi với đào tạo lực lượng các lương y trẻ, thành thạo công việc.

Năm 1985, chị chủ trì đề tài cấp nhà nước: Nghiên cứu một số tác dụng chữa bệnh của cây quao nước cùng dược sĩ Nguyễn Đăng Bình đã mang lại thành công bước đầu, tạo thêm một hướng mới trong việc chữa trị một số chứng bệnh do rối loạn chức năng trong viêm gan mãn.

Cây quao nước cao tối đa gần 10m, lá kép - 1 lần kép, dạng lông chim, trái tròn dài, vách giả mang hột dẹt gồm nhiều hoa trắng to gần như đều nhau, có mùi rất thơm; mọc hoang dại ở vùng nước lợ, có nhiều ở quê chị. Loài cây cho hoa thật đẹp, một thứ đẹp nguyên sơ, quyến rũ mà mỗi khi ngắm nhìn nó lòng ta như có cảm giác được trở về với sự thanh thản.

Qua nghiên cứu chị cùng các cộng sự đã đưa ra được những luận cứ có tính khoa học tác dụng làm tăng tiết mật, muối mật, sắc tố mật, nhuận trường, lợi tiểu đặc biệt có khả năng hạ cholesterol huyết, chống dị ứng của cây quao nước. Từ đó chị đưa vào thử nghiệm lâm sàng và điều trị cho kết quả tốt ở Bệnh viện Y học dân tộc thành phố Hồ Chí Minh.

Từ năm 1988 chị được bổ nhiệm làm phó giám đốc, rồi giám đốc bệnh viện (năm 1998); công việc cứ thế lại dồn lên đôi vai bé nhỏ của chị.

Có lẽ, sẽ thật sự thiếu sót nếu như chúng ta không nhắc đến Bệnh viện Y học dân tộc TPHCM là một trong 5 địa chỉ trong ngành y tế TPHCM đạt danh hiệu “Bệnh viện tình thương” của Bộ Y tế. Song song với công tác chuyên môn khám và chữa bệnh phục vụ nhân dân, công tác đào tạo và huấn luyện cán bộ cũng được chú trọng: Các cán bộ chuyên môn đều được bố trí đi học chuyên khoa I, chuyên khoa II hoặc các chuyên khoa sâu; các cán bộ quản lý khoa phòng tham gia học các khóa học quản lý hành chính, lý luận chính trị...; nhiều điều dưỡng viên đã được cử đi học trở thành điều dưỡng trung cấp, cử nhân điều dưỡng, thạc sĩ điều dưỡng... Nhờ vậy chất lượng điều trị, phục vụ người bệnh ngày một tốt hơn.

Công việc quản trị dù chiếm mất nhiều thời gian, nhưng không vì thế làm chị quên đi bản thân vốn dĩ là một nhà khoa học. Chị tham gia, chủ nhiệm hàng loạt các đề tài nghiên cứu: lớn có, nhỏ có, cấp ngành, cấp nhà nước có cả, tạo nên sự đa dạng trong phương pháp chế biến thuốc và chữa bệnh.

Phương pháp thay thế cách sắc thuốc dùng ấm nấu than bằng nồi hấp dược liệu là một ví dụ về việc nâng cao chất lượng thuốc sắc và sự tiện lợi cho người bệnh. Vai trò và sự cống hiến của chị đã được Đảng và Nhà nước, lãnh đạo chính quyền thành phố Hồ Chí Minh, Bộ Y tế, Liên đoàn Lao động đánh giá bằng việc trao tặng chị nhiều bằng khen, huân chương, huy chương và danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc năm 2000.

Tôi cầm hai cuốn sách khổ A4 với chiều dày hơn 400 trang về báo cáo tổng kết công tác điều trị, thừa kế và nghiên cứu khoa học của bệnh viện chị vừa đưa. Lật lật từng trang, tôi bắt gặp tên các chuyên khoa, các công trình nghiên cứu, các bài thuốc mà bệnh viện từng điều trị, từng sáng tạo. Đó là những con số, những biểu đồ, những luận cứ khoa học đã được tổng kết, phân loại, đánh giá tích lũy từ công sức của nhiều thế hệ cán bộ công nhân viên bệnh viện mà thành truyền lại cho các thế hệ kế tiếp.

LÊ QUANG SINH

Tin cùng chuyên mục