Khi “xanh” thành chuẩn mới của thị trường

Thị trường đang siết việc nâng chuẩn đối với hàng hóa. Ngày càng nhiều nhà mua hàng xem xét nguồn gốc nguyên liệu, mức sử dụng tài nguyên, tác động môi trường và trách nhiệm với người lao động. Khi những tiêu chí này đi vào quyết định lựa chọn sản phẩm và nhà cung cấp, “xanh” trở thành một phần của điều kiện giữ thị trường và mở rộng đầu ra.

Khách hàng lựa chọn sản phẩm “Tick xanh trách nhiệm” tại Centre Mall đường Phạm Hùng, TPHCM (ẢNH: HOÀNG HÙNG)
Khách hàng lựa chọn sản phẩm “Tick xanh trách nhiệm” tại Centre Mall đường Phạm Hùng, TPHCM (ẢNH: HOÀNG HÙNG)

Thị trường kéo doanh nghiệp nâng chuẩn

Sự thay đổi trước hết diễn ra ở cách thị trường lựa chọn hàng hóa. Một sản phẩm muốn vào được hệ thống phân phối hoặc chuỗi cung ứng phải chứng minh rõ hơn được làm ra từ đâu; nguyên liệu nào, chế biến ra sao; quy trình sản xuất có đáp ứng yêu cầu về môi trường, lao động và có thể truy xuất khi phát sinh vấn đề hay không. Tính cạnh tranh hiện đã dịch chuyển từ những gì thể hiện trên sản phẩm sang cả quy trình phía sau sản phẩm.

Theo bà Nguyễn Thảo Hiền, Phó Vụ trưởng Vụ Phát triển thị trường nước ngoài, Bộ Công thương, xanh hóa sản xuất và thực hành ESG (môi trường - xã hội - quản trị) ngày càng ảnh hưởng đến sức cạnh tranh và khả năng tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu. Khi nhà mua hàng đặt thêm yêu cầu về môi trường, xã hội và tính minh bạch, doanh nghiệp phải chứng minh được năng lực đáp ứng suốt quá trình sản xuất, thay vì chỉ bảo đảm chất lượng của thành phẩm.

Sức ép này đang được truyền từ quầy hàng ngược về phía nhà cung cấp. Tại Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn (SATRA), đến cuối tháng 8-2026, có 34 nhà cung cấp với 287 sản phẩm Tick xanh được phân phối tại 4 SatraMart và gần 150 Satrafoods. Để được nhận diện Tick xanh, hàng hóa phải đáp ứng các yêu cầu về hồ sơ nhà cung cấp, quy trình sản xuất, kiểm nghiệm và truy xuất. Như vậy, một tiêu chí được đặt ra tại hệ thống bán lẻ thực chất kéo theo thay đổi ở nhiều khâu phía sau, từ tổ chức sản xuất đến quản lý chất lượng và dữ liệu sản phẩm.

Theo ông Lâm Quốc Thanh, Tổng Giám đốc SATRA, việc lựa chọn nhà cung cấp ngày càng gắn với yêu cầu về chất lượng, nguồn gốc và trách nhiệm trong sản xuất. Khi hệ thống phân phối đưa những tiêu chí này vào điều kiện lựa chọn hàng hóa, nhà sản xuất muốn duy trì đầu ra phải chủ động nâng chuẩn tương ứng. Đây chính là cách sức mua của thị trường tạo áp lực, đồng thời tạo động lực để sản xuất thay đổi.

Yêu cầu xanh cũng không dừng ở hàng hóa trên quầy mà đi vào chính hoạt động vận hành của hệ thống phân phối. SATRA đang triển khai hệ thống điện mặt trời tại Centre Mall Củ Chi, Centre Mall đường Võ Văn Kiệt và kho lạnh SATRA với tổng công suất khoảng 1.391kWp, trong đó riêng kho lạnh khoảng 650kWp. Việc đưa năng lượng tái tạo vào kho lạnh - nơi phải duy trì tiêu thụ điện liên tục – cho thấy bài toán sử dụng tài nguyên hiệu quả đang được đặt vào những khâu tiêu tốn nhiều năng lượng của chuỗi phân phối.

Từ lựa chọn nhà cung cấp đến vận hành điểm bán, kho lạnh và logistics, các tiêu chí xanh vì thế đang dần được cụ thể hóa thành yêu cầu kinh doanh. Khi tiết kiệm năng lượng, truy xuất nguồn gốc, giảm chất thải hay trách nhiệm của nhà cung cấp ảnh hưởng trực tiếp đến việc hàng hóa có được lựa chọn hay không, “xanh” bắt đầu chuyển từ cam kết tự nguyện thành một phần của chuẩn cạnh tranh.

Xanh hóa phải gắn với đầu ra

Tuy nhiên, nâng chuẩn luôn đi cùng chi phí. Để đáp ứng những yêu cầu mới, doanh nghiệp phải đầu tư cho vùng nguyên liệu, công nghệ, kiểm nghiệm, truy xuất nguồn gốc và tổ chức lại quy trình sản xuất. Nếu thị trường không tạo được đầu ra tương xứng, chi phí tăng thêm sẽ trở thành rào cản, nhất là với doanh nghiệp có quy mô nhỏ và năng lực tài chính hạn chế.

Vì vậy, bài toán của chuyển đổi xanh không nằm riêng ở việc yêu cầu doanh nghiệp đầu tư bao nhiêu, mà còn ở khả năng tạo thị trường cho những sản phẩm đã được nâng chuẩn. TPHCM đang tìm cách mở rộng đầu ra bằng việc đưa sản phẩm Tick xanh trách nhiệm từ hệ thống bán lẻ sang các kênh tiêu thụ có nhu cầu lớn và ổn định hơn. Theo ông Nguyễn Nguyên Phương, Phó Giám đốc Sở Công thương TPHCM, việc mở rộng chương trình vào trường học, bệnh viện và bếp ăn tập thể có thể tạo thêm nguồn cầu đáng kể. Nếu các đơn hàng này ưu tiên sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng và đáp ứng tiêu chuẩn, doanh nghiệp sẽ có thị trường đủ ổn định để duy trì đầu tư cho vùng nguyên liệu, kiểm nghiệm và truy xuất.

Điểm đáng chú ý là mối quan hệ giữa tiêu chuẩn và quy mô thị trường. Một doanh nghiệp bỏ thêm chi phí để nâng chuẩn nhưng vẫn phải cạnh tranh hoàn toàn bằng giá với hàng thông thường sẽ khó duy trì đầu tư lâu dài. Ngược lại, khi sản phẩm đạt chuẩn tiếp cận được hệ thống bán lẻ, trường học, bệnh viện, bếp ăn tập thể hay kênh mua sắm lớn, sản lượng ổn định có thể giúp phân bổ chi phí tốt hơn và tạo cơ sở để tiếp tục đầu tư.

Tuy nhiên, khả năng đáp ứng những yêu cầu này giữa các doanh nghiệp hiện còn chênh lệch. Bà Đỗ Thị Minh Trâm, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và khuyến công, Bộ Công thương, cho biết, nhiều doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận vốn cho đổi mới sáng tạo, thiếu kinh nghiệm tổ chức sản xuất, kinh doanh theo hướng bền vững; liên kết chuỗi, khả năng tiếp cận thông tin thị trường và năng lực quản trị còn hạn chế. Những điểm nghẽn này cho thấy, nếu tiêu chuẩn thị trường tăng nhanh hơn năng lực chuyển đổi, một bộ phận doanh nghiệp có nguy cơ mất lợi thế ngay thị trường đang tham gia.

Bà Minh Trâm cho rằng, chính sách hỗ trợ vì vậy cần đi vào khoảng cách giữa yêu cầu và khả năng đáp ứng, từ hoàn thiện tiêu chuẩn, hỗ trợ đổi mới công nghệ, chuyển đổi số, sản xuất sạch hơn và tiết kiệm tài nguyên đến giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế. Quan trọng hơn, những hỗ trợ ở phía sản xuất phải được nối với thị trường để sản phẩm sau khi nâng chuẩn có nơi tiêu thụ. Khi đó, chuyển đổi xanh mới hình thành được một vòng vận động có khả năng tự duy trì: thị trường đặt chuẩn cao hơn, doanh nghiệp đầu tư để đáp ứng, sản phẩm đạt chuẩn được mở rộng đầu ra và doanh thu tạo nguồn lực cho vòng đầu tư tiếp theo.

Theo bà Đỗ Thị Minh Trâm, Phó Cục trưởng Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và khuyến công, Bộ Công thương, khi chi phí dành cho nguyên liệu, công nghệ, truy xuất và môi trường có thể chuyển hóa thành đơn hàng, thị phần và khả năng tiếp cận các kênh phân phối tốt hơn, “xanh” mới thực sự trở thành lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp.

Tin cùng chuyên mục