1. Quãng năm 1972-1973, sát tết, tôi có việc đi vào khu văn công Mai Dịch, khi trở ra thì bất chợt thấy một người dáng lòng khòng hối hả đạp xe trên đường. Nhìn kỹ, hóa ra là anh Đỗ Chu. Vội chặn xe anh rủ rê: “Anh đi đâu thế, vào đây uống với em chén trà nóng đã”. Anh Đỗ Chu dùng chân dừng cái xe đạp cũ, tay xua xua: “Thôi, đang vội quá, hẹn chú lần khác nhé”. Đúng lúc đó, nhìn thấy sau xe anh cột một cành đào, tôi buộc miệng: “Cành đào của anh đẹp quá”.
Không ngờ câu khen vu vơ lại chọc trúng sự chú ý của anh. Anh Đỗ Chu nhảy xuống, thận trọng tựa xe vào vách quán sao cho cành đào không rung rinh, rồi bước vào, vừa xuýt xoa nhấp trà nóng, vừa phân bua: “Nói thật với chú, anh đang vội quá, năm hết tết đến rồi”, “Nhưng anh đi đâu mà vội thế?”, “Về quê thằng Huân chứ còn đi đâu nữa. Tết này nó lại không ra được, mình thay mặt nó về lo cái tết cho bà cụ. Thương lắm, có hai con trai thì đều đang ở mặt trận cả”.
Huân đây là anh Nguyễn Trí Huân, một nhà văn trẻ trước ở Bộ Tư lệnh Phòng không - Không quân với anh Đỗ Chu, sau được chi viện cho chiến trường khu 5. Nghe nói anh Chu yêu quý anh Huân lắm, kể như đứa em trong nhà… Cũng bởi thế, nên anh Chu cũng coi mẹ anh Huân như mẹ mình, thường về nhà anh Huân nơi xóm nhỏ ven sông Đáy thuộc huyện Đan Phượng, Hà Tây (nay là xã Đan Phượng, Hà Nội) để chăm sóc bà cụ mỗi khi trái gió trở trời hay năm hết tết đến. “Cành đào đẹp quá”, vừa mời nước anh tôi vừa khen. Anh Đỗ Chu hơi trầm lại: “Đi chợ hoa cả sáng mới chọn được cành này đấy chú ạ, cả đôi bánh chưng kia nữa. Thằng Huân mà có nhìn thấy cũng phải lác mắt. Thôi thế cũng là tươm tất. Nhưng nói thật, dù có gấp mười lần thế này cũng chẳng bù được nỗi vắng con của bà ngày tết đến…”.
2. Ngày anh Phạm Tiến Duật từ Trường Sơn ra cưới vợ, tôi có đến mừng anh. Cũng ở đây, tôi gặp lại anh Đỗ Chu từ đơn vị đến chung vui. Nhưng khác với chúng tôi cứ lăng xăng quanh anh Duật, thì anh Đỗ Chu lại dành cả buổi ngồi trò chuyện với mẹ anh Duật từ Thanh Ba, Phú Thọ về lo việc cho con. Thấy cảnh đó, tôi nghĩ nếu anh Chu không là người tế nhị, chu đáo, hẳn không thể ngồi hầu chuyện bà được cả buổi như thế.
Sau này, anh Đỗ Chu kể lại cho tôi nghe về lần gặp gỡ đó: Tóc bà trắng, vầng trán cao, dáng rất thanh nhã. Anh Duật giống mẹ. Bà cụ cùng tôi ngồi bên khung cửa mở rộng nhìn xuống con đường hẹp đang có những chuyến xe điện leng keng chạy đi chạy lại. Mẹ anh Duật hỏi tôi tuổi gì, tôi thưa mẹ con tuổi Giáp Thân, bà lại nói Duật chính ra phải tính là tuổi Canh Thìn (1940), đi học khai bớt một tuổi. Nó có lớn mà sợ chẳng có khôn, tính tình lại mơ mộng viển vông từ bé, cháu tuy ít tuổi hơn những vẫn cứ là một lứa, cháu nhớ săn sóc Duật.
Tôi nắm bàn tay gầy guộc của bà, bàn tay các bà mẹ chúng ta đều thế, lủng củng những đốt những ngón. Một bàn tay của bà mẹ đồng rừng, từ thượng du xuống phố lặng lẽ và rụt rè. Bàn tay một người đã sinh ra cho đất nước một nhà thơ lớn từ những năm anh mới ngoài 20 tuổi. Giờ đây bà không cần biết những điều xa xôi đó, bà chỉ mong đứa con mình đi suốt cuộc đời đừng gặp những đắng cay mà chính mình đã gặp. Tôi nói với bà không một chút do dự rằng, anh Duật là niềm tự hào của đất nước ta, mẹ chớ lo lắng gì cả…
“Mẹ ơi, anh Duật là niềm tự hào của đất nước ta mẹ ạ”, chỉ một lời anh Chu đã nói với mẹ anh Duật thế thôi, đã làm ấm lòng, mang lại bao nhiêu hạnh phúc cho người mẹ miền thượng du này. Đã bao người trong chúng ta đã có dịp nói với mẹ của bạn mình như thế? Tôi đồ rằng không nhiều. Phải có một tâm hồn vị tha, nhân ái thế nào, một tình yêu người mẹ sâu sắc thế nào, mới có thể thốt nên những lời như vậy…
Sau này, tôi mới nghe anh Huân kể, khi miền Nam giải phóng, đất nước thống nhất, gặp lại nhau, anh Đỗ Chu mới cầm tay anh Huân nói: “Thôi, thế là mày còn sống, giờ tao trả bà cụ cho mày đấy nhé. Có viết gì thì cứ thong thả mà viết, chẳng đi đâu mà vội. À, mà trước mắt hãy cứ là về quê lấy vợ, để có mấy đứa cháu cho bà vui đã nhé…”. Anh Chu tưng tửng dặn dò như vậy, mà nước mắt thì cứ trào ra tự lúc nào trên má anh Huân.
3. Lần đầu tôi gặp anh Đỗ Chu cũng là trong một đám cưới, đám cưới của chính anh Chu. Nhà anh Đỗ Chu khi đó ở vùng quê Bắc Ninh, đám cưới bà con đến đông lắm. Thế mà khi nghe giới thiệu về tôi, anh Chu liền gật gù: “Này, tên chú là có cả tên sông, tên ngòi quê hương đấy nhỉ?’. Tôi nghe mà giật mình, La là sông La - Hà Tĩnh, nơi tôi sinh ra, Việt là Cửa Việt - Quảng Trị, quê mẹ tôi. Chỉ mới gặp lần đầu mà anh đã biết về gốc gác của tôi rồi.
Chỉ ít phút giao lưu thế thôi, ấy mà nửa năm sau khi tôi vào mặt trận, nhận được một lá thư mẹ tôi gửi vào: “Hôm rồi có nhà văn Đỗ Chu đến thăm nhà ta con ạ. Ngày trước đọc truyện, thấy tác giả viết dễ mến, nay gặp trực tiếp, lại càng thấy dễ mến hơn… Thấy mẹ lo cho con nơi mặt trận bom đạn, lại đang tập tễnh viết văn làm thơ, trong khi tài năng lĩnh vực này từ nhỏ cũng chưa thấy con bộc lộ, thì anh ấy nói như đinh đóng cột: “Thằng ấy không phải tay vừa đâu chị ạ, chị đừng lo lắng nhiều, chắc chắn rồi nó sẽ nên người”. Những lời nói của anh ấy làm mẹ ấm lòng quá, thấy vững tin vào con hơn…”.
Một thời gian sau, tôi nhận được thư của anh Đỗ Chu, nằm trong công sự đọc thư mà cứ ứa nước mắt: “Chú ạ, anh mới được gặp mẹ chú. Dịp cuối năm, Phủ Chủ tịch tổ chức cuộc gặp gỡ với các văn nghệ sĩ. Theo yêu cầu của Thủ tướng Phạm Văn Đồng, mẹ chú bước lên hát bài Xa khơi của nhạc sĩ Nguyễn Tài Tuệ. Hát như rút ruột mà hát. Tất cả đều như lặng đi. Hát xong, Thủ tướng đi đến đặt vào tay mẹ chú một bông hồng đỏ thắm… Việt ạ, suốt đời chú nhớ nhé, viết gì thì mặc chú, nhưng đã viết thì hãy viết như mẹ ta từng đã hát. Ngậm từng chữ, nhả từng câu, đau như lòng tằm và quý phái như tấm lụa tơ tằm. Say mê tột cùng và thương nhớ cũng tột cùng…”.
Cho đến hôm nay, tôi vẫn mang lời dặn ấy của anh Đỗ Chu trên mỗi bước đường đi, trong mỗi trang văn của mình.