Những giai điệu miền Tây

Những giai điệu miền Tây

Mỗi khi gió đến, mưa về, tôi lại nghe văng vẳng đâu đây câu hát buồn da diết “Đêm trắng qua sông dài. Vẳng nghe tiếng quốc kêu người…” * .Câu hát bập bềnh trên sông nước miền Tây. Lâu lắm rồi, tôi không về miền Tây – vùng châu thổ sông Tiền, sông Hậu.

Bạn tôi nói qua điện thoại, miền Tây bây giờ thay đổi nhiều lắm, đang công nghiệp hóa, đô thị hóa. Miền Tây đang phát triển từng ngày, từng giờ… Tôi không thể không đến, không về. Một ngày mưa nắng chen nhau, theo đường số 1, tôi về miền Tây.

Đàn bà, không chỉ là một nửa thế giới. Về miền Tây không thể không thấy những nét đẹp đặc sắc riêng biệt của phụ nữ. Người phụ nữ miền Tây đi không cúi mặt, luôn nhìn thẳng. Cái nhìn không xa, không gần, chỉ vừa đủ để nhận ra người quen thân.

Tôi như bị thôi miên trước sự chuyển động nhịp nhàng như thoi đưa của chị. Người phụ nữ đã tới tuổi 40, vóc dáng thấp đậm lưng thẳng, vai dày hăm hở vác những bao tải trái cây xuống thuyền. Tôi không nhìn thấy mặt, thấy đầu tóc của chị. Chỉ thấy những bước chân trần và bắp chân nâu sạm tràn trề sinh lực…

Theo những dòng kênh, theo những con đường ngang dọc miền Tây, tôi thấy chị ngất ngư trên xe công nông chở đầy những bao thóc, ngụp lặn dưới dòng nước đục ngầu mang đất lên đắp bờ, bơi rượt cùng dòng chảy thu gom những cây tràm về bến…

Những giai điệu miền Tây ảnh 1

Tôi gặp chị nhổ tóc bạc cho mẹ già, tắm giặt cho con, nấu đồ nhậu cho chồng. Bạn tôi, một nhà thơ đa cảm, uống đến ly thứ ba đã dàn dụa nước mắt: “Thương lắm, vĩ đại lắm… vì gia đình vì họ hàng chòm xóm, họ hy sinh cả thân mình… Tôi thấy rồi, thấy nhiều rồi…”. Tôi chia sẻ với anh, gõ ly hát theo: “Ví dầu cầu ván đóng đinh, cầu tre khấp khểnh gập ghềnh khó đi…”.

Một chiếc ghe nhỏ có mái che chạy máy đuôi tôm, ở mũi thuyền có biển đề: “Bếp ga” đồng hành cùng chúng tôi một đoạn ngắn. Chủ ghe là một phụ nữ trẻ vóc dáng mạnh mẽ như một vận động viên bơi lội.

Sẽ không là đồng hành nếu không có tiếng nói đi theo. Người ấy kể rằng, cuộc sống của gia đình phụ thuộc vào chiếc thuyền ga này. Người dân miệt vườn đã xài nhiều bếp ga. Chị cung cấp ga và sửa bếp ga cho mọi người. “Chạy lòng vòng cũng có, đến theo điện thoại cũng có…”. Có một nghịch lý tạo nên một vẻ đẹp bền chắc vượt qua sự xâm hại của nắng mưa và thời gian.

Đôi mắt to, luôn bừng sáng và đa cảm, thẳng thắn và duyên dáng là một thế giới khác so với cái thế giới nghĩ ngợi mông lung chứa đựng ở khóe miệng bên phải khi hàm răng trắng bóng luôn cắn nhẹ vào môi dưới. Hai thế giới khác nhau ấy hài hòa trong một tổng thể dở dang tươi mát hồn hậu. “Ông xã đâu rồi?”. “Đuổi đi rồi!”. “Sao vậy?”. “Nói nhiều quá, nhậu nhiều quá…”.

Khi bán cầu não phải và trái cùng lên tiếng, mắt người phụ nữ không có đuôi. Ngoắt một cái là mất hút. Để lại giữa ngã ba bảng lảng nắng chiều và gió lạnh phất phơ câu hát: “Bây giờ cây lúa đã xanh. Con sáo xưa trở lại sân đình…”. Tôi đã nghe bài hát này nhiều lần thấy nhiều tâm trạng, khi thì sầu thảm oán hờn, lúc thì gợi nhớ mênh mông. Ở đây, tôi thấy lời ca cất lên thật bình thản, tĩnh lặng, êm đềm. Như đất trời, cây cỏ là thế, cuộc sống là vậy…

Thế giới không thể hoàn thiện nếu thiếu những giấc mơ. Tôi mơ thấy những người đất phương Nam đào kinh Vĩnh Tế, kênh Tám Ngàn… Trong ánh sáng vàng xuộm từ những ngọn đuốc lá dừa cháy phần phật trong gió, trong mưa, nhưng đôi tay moi đất đắp bờ, những đôi chân đạp lên đầu cá sấu, rắn hổ. Hàng ngàn người ngâm mình trong nước, mồ hôi lẫn trong nước mưa.

Đất màu nâu sạm, nước màu nâu nhạt. Đất nước kết tinh, kết tủa trên tay người. Không còn là đất nữa. Là những trái dừa, trái xoài, măng cụt… Là những hạt lúa vàng rực. Rồi họ mang lên một phiến đá trắng ngần trong suốt như ngọc. Một người già nói: “Thần thánh luôn ở cùng chúng ta”.

Mọi người mang phiến đá lên gò cao lập miếu thờ. Người già bảo “Thần là gái đồng trinh, tuẫn tiết để cứu bà con thoát khỏi lũ lụt, giặc giã và dã thú”. Tôi nhìn sâu trong phiến đá thấy hình một cô gái trẻ đẹp tuyệt trần nằm nghiêng, mắt nhìn đau đáu tới một chân trời nào đó.

Bỗng nhiên gió mưa sấm sét nổi lên, giặc giã mặc đồ đen cùng nhiều loài cọp beo, cá sấu rầm rầm kéo tới. Từ trong phiến đá, cô gái bay lên, tỏa ra một vầng sáng chói lòa. Giặc giã biến mất. Các loại dã thú hiền khô quỳ phục dưới dân mọi người…

Tĩnh lại, trong một buổi sáng trong lành yên ả trên nhà nghỉ pháo đài của thị xã Hà Tiên, tôi thấy trên những bờ kè của công trình lấn biển có bóng dáng phiến đá đồng trinh. Tôi nhìn ra biển, thấy hòn Phụ Tử, hòn Chông nhô lên giữa những cần trục và mái ngói, nhà xây dang dở.

Có người bảo tên gọi hòn Chông vì dáng vẻ chông chênh. Cũng có người nói người xưa đặt tên là hòn Trông với nỗi niềm trông ngóng chờ đợi, là cái nhìn canh giữ biển cả và đất liền. Tôi thích cái ý nghĩa nhìn ngóng của hòn núi ấy và nghĩ rằng lời giải cho tên gọi này là hợp lý, hợp tình.

Những người đi mở đất phương Nam của dân tộc ta không thể không biết tới đá Vọng Phu ở địa đầu phía Bắc của Tổ quốc, không thể quên tình phụ tử, mẫu tử tạc vào đá muôn đời trên cuộc hành trình ở khúc ruột miền Trung. Mùa giỗ Tổ Hùng Vương vừa qua (ngày 10-3 Âm lịch) ở Đền Hùng, tôi gặp rất nhiều người miền Tây (già, trẻ, trai gái có đủ) về giỗ tổ, thăm lại gốc quê và viết gia phả…

Có một người chặn chúng tôi lại ở Tri Tôn (An Giang). Một bạn viết biết tên nhưng chưa gặp mặt. Một cuộc nhậu ven đường theo đúng kịch bản phương Nam. Chiếc điện thoại di động gọi lần một. Hai người tới. Gọi lần hai. Ba người tới. Các loại rau sống chất đầy thêm. Đoạn kết phải là rượu đế. Một thượng tá quân đội kéo quân tới. Bạn tôi vui mừng hớn hở. Mặt trời đỏ lựng đọng trên núi Cấm. Dãy Thất Sơn bắt đầu lễnh loãng mây mù.

Ông Thượng tá bảo: “Phải uống theo tục lệ. Không còn mỗi người một ly. Không có cưa ba, chỉ có cưa đôi!”. Ông thượng tá ra lệnh. Tôi uống. Thấy trời và đất liền nhau. Bạn tôi hát: “Về phương Nam lắng nghe câu hò…”. Ông Thượng tá hát: “Ai đứng bên gốc dừa, tóc dài bay theo gió…”.

Những người nhậu không say vì rượu. Họ say vì khách đến thăm. Một đám cưới rầm rộ suốt ba ngày. Người hàng xóm ngất ngư lôi con heo trong chuồng tới. Người khác vác bao gạo, can rượu tới. Một tiếng thôi: “Rồi!”.

Có ai đó đã nói một câu rất hay: “Khi sinh ra ta tự khóc cho mình. Khi chết đi người khác khóc cho ta. Nên ta sống vì người khác nhiều hơn là vì ta”. Ông Thượng tá sau khi xuống sề câu vọng cổ dằn mạnh cái ly xuống bàn, chỉ tay về phía trước nói như một động lệnh: “Ta vì người cũng là vì ta”.

Ở khóe mắt nhăn nheo nâu sạm của ông đọng lại những giọt nước. Không phải mồ hôi. Đấy là ước mắt. Một cuộc gặp tao ngộ. Chia tay như cuộc biệt ly. Có lẽ trên thế gian này, không ở đâu có được một tấm lòng cộng đồng sâu sắc và rộng mở như ở nơi đây…

Sự sống luôn thay đổi. Có đi sẽ có đến. Kênh rạch có chằng chịt đến mấy, cứ theo nước mà đi cũng tới nơi cần tới. Nơi ruộng lúa bạt ngàn ong ong màu vàng, chúng tôi gặp một ngôi nhà bé nhỏ chơ vơ đứng chênh vênh trên 5 cọc gỗ tràm. Trong nhà, hai đứa nhỏ vá lưới. Trước hiên, người cha đang sửa lại chiếc xuồng. Bạn tôi hỏi: “Được mấy công lúa?”. “Đủ ăn thôi, cực lắm!”. “Bao giờ cắt?”. “Vài ngày nữa, mùa này lũ chậm”. “Không lên đê à?”. “Lên đó lấy gì ăn! Này, vô đi, lai rai chút đỉnh chứ. Mọi thứ có sẵn”.

Lời mời thiệt tình. Trời đổ mưa cũng thiệt tình. Chúng tôi phải vội đi. Hai đứa trẻ nhìn theo với đôi mắt buồn thăm thẳm. Trong mưa mịt mờ tôi vẫn thấy đôi mắt ấy dõi theo. Một cán bộ ngành văn hóa thông tin An Giang bày tỏ nỗi cực nhọc của công tác tuyên truyền nâng cao dân trí: Như việc vận động bà con Khmer không nuôi bò dưới sàn nhà để đảm bảo vệ sinh. Chuyện tưởng như đơn giản nhưng cũng gian nan lắm.

Bà con thương bò, coi nó như người thân, không nỡ để nó ở xa. Chính quyền xã phải có chi viện chút ít để làm chuồng sạch sẽ và giao nhiệm vụ cho dân quân phải bảo vệ bò không để kẻ gian bắt trộm. Bà con tin ở chính quyền nên làm theo”. Anh trầm ngâm, nói tiếp: “Người dân ở đây tin ở chính quyền hơn cả khoa học. Trách nhiệm của chính quyền quả thật rất nặng nề”…

Mọi con đường ở miền Tây đều xuất phát từ đường số 1. Mọi dòng nước đều chảy ra biển. Kênh rạch, sông, biển đều hàm chứa cái lành, cái dữ. Ở miền Tây, nước sinh ra đất. Đất nuôi dưỡng nước. Vậy nên, cái gốc của cuộc sống ở đây là nước và đất. Trong nước có đất. Trong đất có nước.

Giống như chuyện các khu định cư vượt lũ, chuyện đê bao tỉnh, đê bao huyện, đê bao xã… đang là chuyện hay ít, dở nhiều. Chúng ta đã quên công thức nước – đất, không nhớ tới quy luật của dòng nước của vùng khí hậu. Miền Tây là một vùng tổng thể hài hòa không thể chia cắt.

Từ xa xưa, trong công cuộc khai hoang mở đất, các bậc tiền nhân biết rất rõ những điều này và họ luôn sống chung với lũ. Ai chả muốn nhà cửa khang trang xóm giềng gần gũi. Vì cuộc sống họ phải đưa phần lạc nghiệp lên trên phần an cư.

Cứ theo lẽ thông thường của đời sống, người ta phải an cư rồi mới lạc nghiệp. Với đồng bằng sông Cửu Long, có nhiều người nêu vấn đề cần lạc nghiệp trước, an cư sau. Trong đợt đi công tác ở Trung Quốc tôi có tiếp xúc với một nhà nghiên cứu văn hóa - xã hội, được nghe ông nói về kế hoạch phát triển kinh tế vùng phía Tây của Trung Quốc.

“Các vùng miền đều có màu sắc riêng. Miền Tây Trung Quốc có gam màu rừng, núi. Phát triển kinh tế ở đây là để loại bỏ đường nét hiểm trở quanh co, tăm tối, tăng thêm màu sắc của ánh sáng điện và đèn pha ô tô”.

Tôi không phải là một nhà kinh tế. Tôi cũng không có ý định đề xuất một phương án phát triển nào hết. Chỉ là một cảm nhận mộng mơ. Công thức của miền Tây Trung Quốc: “Đường đi + điện + tri thức = Thành công” có lẽ cũng có thể vận dụng cho vùng đồng bằng sông Cửu Long nước ta.

Tôi vẫn không thể quên được đôi mắt buồn da diết của em bé ngồi vá lưới trong ngôi nhà cô quạnh giữa cánh đồng mênh mông. Bao giờ em không phải vá lưới khi nghỉ hè để đến với “Võ lâm truyền kỳ” trên máy vi tính?

Đi trên những dòng kênh vùng U Minh Thượng, thấy tiếng chim trong rừng tràm mang giai điệu nhạc rừng miền Đông. Cả tiếng tắc kè nữa. Tôi nghe trong gió lời hát “Khi chiếc lá xa cành, lá không còn màu xanh. Mà sao em xa anh. Đời vẫn xanh vời vợi…”.

Những thảm cỏ dày đủ loại lá cỏ, cứng có, mềm có, gần giống như một chiếc phao khổng lồ dập dềnh trên mặt nước nâu sẫm. Rừng và dây leo lúp xúp rậm rạp điểm xuyết nhiều sắc hoa. Giống như bức tường hoa kéo dài ngút ngàn. Bất ngờ tôi gặp một bông súng màu hồng thắm rực rỡ trên mặt nước. Đi từ Bắc vào Nam, ở đâu tôi cũng thấy bông súng, một thứ hoa dại trồi lên từ lòng nước. Nhưng ở vùng cực Tây Nam của đất nước, tôi thấy sắc màu của bông súng đậm đà, bay bổng hơn.

Người cựu chiến binh kể chuyện ngày xưa theo ngôn ngữ bác Ba Phi: “Một lần giặc Mỹ thả bom. Có trái bom rơi cạnh con trăn đất đang lắng nghe để chấm điểm bầy chim le le, còng cọc thi hát karaoke. Con trăn vội cuộn chặt trái bom 50 ký đưa ra xa, nhấn xuống lòng kênh. Trái bom nổ đánh ục. Mấy con lươn giật mình từ bùn đất chui lên. Chúng tôi chẳng phải câu giăng gì hết, cứ lấy rổ xúc mang về lán nấu cháo, nhậu chơi…”.

Người cựu chiến binh đã ngoài 60 tuổi vẫn phăm phăm lội sình băng qua những dây dợ cỏ dại tuần tra, bảo vệ rừng. Người ta gọi ông là “chiến binh bảo vệ rừng”. Mưa chiều đang lần lần tới. Ông đi về hướng mưa và mất hút trong mưa. Màu mưa bạc phếch. Mọi thứ trở nên mờ ảo mông lung. Nhưng sắc xanh của cây lá, sắc hồng của hoa vẫn lừng lững dâng lên.

Ở miền Tây, trong dòng kênh hay đường lộ, giữa thành phố hay ở vùng nước lũ tràn đồng, mọi sắc màu không hề khép kín, không đông đặc. Hết thảy đều gợi mở… như câu hát: “Mà sao em xa anh. Đời vẫn xanh vời vợi…”. Một miền Tây xanh. Xanh vời vợi…

Phía trước là biển. Biển miền Tây trùng điệp nhấp nhô. Tôi nghe câu hát lan tỏa từ ngọn sóng: “Biển một bên và em một bên…”. Chưa nơi nào tôi cảm thấy biển gần gũi đến thế.

Trên đường lộ đến thị xã Hà Tiên chúng tôi rửa tay, rửa chân trên biển. Có ngọn rau muống gác mình trên biển để ngủ. Có bông tóc tiên đỏ thắm soi bóng xuống biển làm duyên. Một tiếng gà trưa thao thác rơi xuống biển. Biển đưa lên… Tiếng gà ngân nga mờ ảo…

Những người dân đi biển trở về. Người đầy nắng gió và tiếng cười. Tiếng cười lẫn trong tiếng máy xe ủi, máy khoan cọc, máy trộn bê tông và máy hút bùn. Sấm chớp, mưa gió ở đâu đó quanh đây. Thế thôi! Một vùng đất biển đang vào mùa đô thị hóa. Tối đến trên đất liền, điện sáng rực trời, xe gắn máy chạy vùn vụt. Nhà hàng đông đúc, ca hát rầm rĩ. Phía biển gần xa, mưa gió mịt mờ.

“Buồn!”. Một người tư lự. Ông gắn bó với biển từ lúc chập chững biết đi. “Biển cũng như người, chớ nên phụ bạc”. Lời nói như tiếng hát giai điệu trầm buồn “Sáo kia xa bầy, có trở về tìm lại nhau…”. Tôi giật mình nhớ lại thảm họa cơn bão số 5 năm xưa. Lại nhớ đến cảnh đánh bắt hủy diệt tôm cá trên các vùng biển của đất nước. Có người nói câu rất hay: “Nhìn xa nghĩ được xa hơn, nhìn gần nghĩ cũng gần. Mọi cái đều phải nuôi dưỡng kể cả bạn bè, tình yêu…”.
Xin gửi đến những nhà hoạch định chính sách vùng biển miền Tây câu nói nhiều ý nghĩa này.

Trên đường số 1 từ Bắc vào Nam, tôi đã qua rất nhiều cây cầu lớn nhỏ. Giống như con người, mỗi cây cầu đều có cái bóng của mình. Tôi đi từ câu ca quan họ với chất giọng êm ái véo von, lảnh lót và sâu lắng “Nay có thương nên phải đi tìm, mai có nhớ mình lại sang chơi…” qua cầu sông Đuống bắc ngang câu thơ “Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ”, để đến với cầu Hàm Rồng nghe tiếng thơ cất lên từ chân sóng “Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

Tôi đã qua cây cầu Sông Gianh, nghe trong gió lời hát ru buồn thăm thẳm: “Thùng thùng trống đánh ngũ liên, bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa…”, đến với cầu Sài Gòn để thấy “cái vầng sáng bồn chồn thương nhớ ấy” sáng hơn mọi thứ ánh sáng tự nhiên. Tôi đã qua cầu Hiền Lương xuôi Nam với “đôi mắt đượm tình quê” trong Câu hò bên bến Hiền Lương, đến với cầu Mỹ Thuận để cảm nhận hết cái mênh mông tha thiết của lời hát “Trời của ta, đất của ta…”.

Trên phà Cần Thơ, giữa dòng Hậu Giang cuồn cuộn, tôi thấy phía hạ nguồn một vật thể bé nhỏ như một dấu chấm hỏi di động trên sóng nước. Đó là chiếc ghe nhỏ chèo tay. Đang tiến về những cây cần cẩu, cần trục cao vút, nơi công trình xây dựng cầu Cần Thơ đang thi công. Khách trên phà ít người để ý đến cái ghe nhỏ bé ấy. Họ bàn luận về việc xây cầu Cần Thơ, cầu Rạch Miễu…

Không còn nữa cảnh bán hàng rong chen lấn cùng với tiếng hát ăn xin não nề. Không còn nữa những chốt gác “ngăn sông cấm chợ”. Không còn nữa cảnh nghèo đói rách rưới lang thang vạ vật ven đường. Nhưng những đường nét cực nhọc vẫn còn đó, lam lũ vẫn còn đây… Chiếc ghe nhỏ chèo tay chống trả sóng gió vẫn ngày ngày lầm lũi sang sông mang theo câu hát “Đêm trắng qua sông dài, lặng nghe tiếng quốc kêu người…”.

Đêm rồi cũng qua đi. Sáng ra, từ trên quốc lộ 1, tôi thấy những xe ủi, xe cần cẩu, xe trộn bê tông, nhiều loại phương tiện chuyên dụng làm cầu, xây dựng khác hối hả đi về miền Tây theo nhịp điệu hành khúc. Tôi cảm nhận tiết tấu khúc quân hành ngày xưa vang lên “Hành quân xa dẫu có nhiều gian khổ…”. Một cảm nhận theo lẽ tự nhiên, như mọi dòng sông đều có nguồn cội và đều chảy…

* Những chữ in nghiêng là câu trích lời hát, lời thơ của nhiều tác giả (người viết – T.V.T.) 

TRẦN VĂN TUẤN

Tin cùng chuyên mục