Những ký ức đi cùng tên gọi

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dấu mốc lịch sử ấy vẫn được gìn giữ trong ký ức của những chứng nhân và qua những tư liệu báo chí đã ngả màu thời gian, nhắc nhớ về thời khắc thiêng liêng của thành phố mang tên Bác.

Nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ ngày Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Dấu mốc lịch sử ấy vẫn được gìn giữ trong ký ức của những chứng nhân và qua những tư liệu báo chí đã ngả màu thời gian, nhắc nhớ về thời khắc thiêng liêng của thành phố mang tên Bác.

Chứng nhân ngày lịch sử

Chúng tôi tìm gặp ông Lê Văn Nuôi, nguyên đại biểu Quốc hội khóa VI, vào những ngày cuối tháng 6. Ở tuổi 74, trí nhớ của ông vẫn còn sắc nét, nhớ từng ngày, từng khung cảnh, từng gương mặt, như thể những sự kiện cách đây 50 năm mới vừa diễn ra hôm qua.

Ông bồi hồi nhớ lại, ngày 25-4-1976, hơn 23 triệu cử tri cả nước tham gia cuộc tổng tuyển cử đầu tiên sau ngày đất nước thống nhất, bầu ra 492 đại biểu Quốc hội khóa VI. Hai tháng sau, ngày 24-6-1976, Quốc hội khóa VI - Quốc hội của nước Việt Nam thống nhất khai mạc kỳ họp đầu tiên tại Hội trường Ba Đình.

B4a.jpg
Cột cờ Thủ Ngữ và bến Bạch Đằng bên sông Sài Gòn. Ảnh: HOÀNG HÙNG

Hội trường Ba Đình khi ấy trở nên chật kín khi đón các đại biểu từ khắp mọi miền đất nước. Giữa các dãy ghế, những cái bắt tay, những cái ôm siết chặt nối tiếp nhau. Những người từng chỉ biết nhau qua chiến trường, qua những trang báo hay qua lời kể nay được gặp mặt. Trong hội trường là các đồng chí lãnh đạo, những vị tướng lừng danh, các văn nghệ sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang...

Tất cả cùng hội ngộ trong khoảnh khắc đặc biệt của lịch sử dân tộc. Trong chương trình nghị sự, Quốc hội đã thông qua 2 nội dung mang ý nghĩa lịch sử: đổi tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và quyết nghị chính thức đặt tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định là Thành phố Hồ Chí Minh.

Trước kỳ họp khoảng một tuần, các đại biểu đã được gửi đầy đủ tài liệu. Đoàn đại biểu Thành phố Sài Gòn - Gia Định cũng họp để chuẩn bị nội dung, nghiên cứu chương trình trước khi lên đường ra Hà Nội. Nhưng theo ông Lê Văn Nuôi, dù đã biết trước nội dung, không ai có thể hình dung hết cảm xúc khi thời khắc lịch sử thật sự diễn ra.

“Khi Quốc hội bước vào nội dung đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh, lập tức nhận được sự đồng thuận của toàn thể đại biểu Quốc hội. Ai cũng biết nguyện vọng ấy đã được cán bộ, chiến sĩ và nhân dân miền Nam bày tỏ từ năm 1946. Vậy là kể từ ngày 2-7-1976, Thành phố Sài Gòn - Gia Định chính thức mang tên Thành phố Hồ Chí Minh”, ông kể.

Nhắc về ngày thành phố mang tên Bác, ông Lê Văn Nuôi còn nhớ một kỷ niệm đặc biệt, diễn ra trước kỳ họp Quốc hội khóa VI khoảng một năm. Khoảng 1 giờ sáng ngày 1-5-1975, khi đang bị giam trong “chuồng cọp” tại trại biệt giam số 7, nhà tù Côn Đảo cùng 4 tù chính trị khác, ông bất chợt nghe từ các khu giam, theo gió biển vọng lại tiếng hô vang: “Hoan hô Thành phố Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh đã hoàn toàn giải phóng! Hoan hô! Hoan hô!”.

“Chúng tôi sửng sốt, cứ ngỡ mình nghe lầm”, ông nhớ lại. Đó cũng là lần đầu tiên ông được nghe tên Thành phố Hồ Chí Minh - tên gọi sau này được Quốc hội khóa VI chính thức thông qua và trở thành niềm tự hào của biết bao thế hệ người dân thành phố.

Chào đời cùng tên gọi mới của thành phố

Ngược về thời khắc lịch sử đặc biệt ấy, có những em bé cất tiếng khóc chào đời mang dấu ấn của ngày thành phố chính thức mang tên Bác. Sau nhiều lần thăm hỏi, chúng tôi gặp bà Nguyễn Thị Thanh Bình, Phó Bí thư Chi bộ khu phố 14, Đảng bộ phường Vĩnh Hội. Bà Bình sinh ngày 2-7-1976, tròn 50 tuổi đúng dịp thành phố kỷ niệm nửa thế kỷ mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh. Với bà, ngày sinh ấy là một niềm tự hào đặc biệt.

Cái tên Thanh Bình cũng chính là kỳ vọng của gia đình, với mong ước đất nước sau chiến tranh sẽ bước vào những tháng năm hòa bình, người dân được sống yên vui, hạnh phúc. Cái tên ấy, theo bà, còn gắn với niềm vui của gia đình khi thành phố bước sang một trang sử mới.

“Tôi vẫn nghĩ mình là người rất may mắn. Sinh ra đúng vào ngày thành phố mang tên Bác, lớn lên cùng từng bước chuyển mình của thành phố”, bà Nguyễn Thị Thanh Bình chia sẻ.

Nửa thế kỷ nhìn lại, ký ức của bà gắn với những đổi thay từng ngày của TPHCM. Từ những con đường nhỏ dần mở rộng, những cây cầu mới nối đôi bờ, hệ thống giao thông ngày càng hoàn thiện đến những công trình công cộng, những khu đô thị mới mọc lên...

Thành phố không ngừng thay đổi diện mạo và cũng mở ra nhiều cơ hội cho những người sinh ra, lớn lên trên mảnh đất này. Từ đầu năm 2025, bà được tín nhiệm làm Bí thư Chi bộ khu phố 14.

Sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, bà tiếp tục tham gia cấp ủy khu phố và đảm nhiệm cương vị Phó Bí thư chi bộ. Với bà Bình, đóng góp cho thành phố không nhất thiết bắt đầu từ những điều lớn lao. Đó có thể là xây dựng một gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con cái nên người, giữ gìn tình làng nghĩa xóm, hay tận tụy với từng công việc ở khu phố. Sau 50 năm, thành phố nghĩa tình hôm nay cũng được bồi đắp từ chính những điều bình dị ấy.

Giữ ký ức qua những trang báo cũ

Là nhà sưu tầm báo chí tại TPHCM hơn 30 năm qua, ông Huỳnh Minh Hiệp hiện là Phó Chánh Văn phòng Trung tâm UNESCO Nghiên cứu bảo tồn cổ vật Việt Nam. Ông đã miệt mài sưu tầm hàng ngàn tờ báo, tài liệu và hiện vật. Trong bộ sưu tập ấy có nhiều tư liệu quý phản ánh hành trình phát triển của vùng đất Sài Gòn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh, từ những ngày đầu sau giải phóng đến quá trình đổi mới và phát triển của thành phố.

Trong đó, ông Hiệp luôn dành một vị trí đặc biệt cho những tờ báo xuất bản ngay sau ngày 2-7-1976, như tờ Nhựt báo Tin Sáng, tờ Văn Nghệ phát hành ngày 3-7-1976...

Nếu những tờ báo năm 1976 ghi lại thời khắc khai sinh tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh, thì những trang báo Sài Gòn Giải Phóng được ông Hiệp trân trọng lưu giữ lại tiếp nối câu chuyện ấy bằng nhịp sống của một đô thị đang hồi sinh. Đặc biệt, Báo Xuân Đinh Tỵ 1977 của Sài Gòn Giải Phóng được ông Hiệp xem là một dấu mốc giàu ý nghĩa, bởi đó là mùa xuân đầu tiên sau khi thành phố chính thức mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh và đất nước thống nhất dưới tên gọi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sau 50 năm kể từ ngày thành phố mang tên Bác, điều khiến ông xúc động nhất khi nhìn lại những tư liệu cũ chính là sự đổi thay từng ngày của thành phố. Từ những trang báo còn lưu giữ hình ảnh một đô thị trong những năm đầu sau thống nhất đến TPHCM năng động, hiện đại hôm nay là cả một hành trình dài của nỗ lực, sáng tạo và khát vọng phát triển.

Thời khắc thành phố chính thức mang tên Bác đã lùi xa nửa thế kỷ, nhưng ký ức của những người đi cùng dấu mốc ấy và những tư liệu còn lưu giữ vẫn tiếp tục nhắc nhở thế hệ hôm nay về niềm tự hào, trách nhiệm và khát vọng dựng xây Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên phát triển mới.

Người đầu tiên đưa ra ý tưởng lấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt cho thành phố

Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp sinh năm 1911, là con của một gia đình nông dân ở Ba Tri tỉnh Bến Tre (nay là tỉnh Vĩnh Long). Năm 1931 học xong tú tài, Trần Hữu Nghiệp thi đậu Trường Đại học Đông Dương khoa Y tại Hà Nội, rồi sang Paris (Pháp) tu nghiệp thêm 2 năm, trở về Việt Nam năm 1937. Khi tiếng súng kháng chiến nổ ra, theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, ông tham gia cách mạng, dùng chuyên môn ngành y để phục vụ kháng chiến.

Tháng 7-1976, Quốc hội nước Việt Nam chính thức có Nghị quyết đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng ít ai biết đúng 30 năm trước, vào ngày 25-8-1946, Hà Nội đang mùa thu, phố phường rợp bóng cờ đỏ sao vàng tung bay, tại phòng Nam bộ, Trung ương tổ chức nhóm họp và bác sĩ Trần Hữu Nghiệp là người đầu tiên đưa ra ý tưởng lấy tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt thay cho Sài Gòn - Gia Định.

Một ngày sau, đoàn đại biểu đến từ miền Nam đang có mặt tại Hà Nội đã gửi một bản kiến nghị trình lên Quốc hội và Chính phủ, xin đổi tên Thành phố Sài Gòn - Gia Định thành Thành phố Hồ Chí Minh để tượng trưng cho sự chiến đấu, hy sinh và cương quyết bảo vệ Tổ quốc của người dân Nam bộ. Bản kiến nghị ấy có 57 người ký tên, trong đó có bác sĩ Trần Hữu Nghiệp.

Bác sĩ Trần Hữu Nghiệp mất ngày 23-12-2006 tại Thành phố Hồ Chí Minh, hưởng thọ 96 tuổi. Cuộc đời ông là tấm gương tiêu biểu của một trí thức yêu nước chân chính, người đã gác lại danh vọng, giàu sang để gắn bó đời mình với cách mạng và công cuộc giải phóng dân tộc. Ông dồn hết tâm trí cho sự nghiệp trồng người, đào tạo đội ngũ thầy thuốc, chăm lo sức khỏe và hạnh phúc của nhân dân.

Nhà văn, Đại tá ĐỖ VIẾT NGHIỆM

Tin cùng chuyên mục