Trợ lực từ “vốn mồi”

TPHCM đang thí điểm chính sách “sandbox” để phá vỡ rào cản, thúc đẩy thương mại hóa kết quả nghiên cứu khoa học có nguồn gốc ngân sách nhà nước, nhằm thu hẹp khoảng cách từ phòng thí nghiệm ra thị trường.

Mô hình dự án nuôi cua của TS Lê Mai Tùng. QUANG HUY
Mô hình dự án nuôi cua của TS Lê Mai Tùng. QUANG HUY

Nhiều dự án cần trợ lực

Theo TS Trần Quý, Viện trưởng Viện Phát triển Kinh tế số Việt Nam (VIDE), nhiều dự án khoa học - công nghệ (KH-CN) tại Việt Nam, trong đó có TPHCM, gặp khó khăn khi chuyển sang giai đoạn thương mại hóa. Nguyên nhân chủ yếu là vướng mắc cơ chế, chính sách và thiếu nguồn hỗ trợ. Thực tế này đòi hỏi sự vào cuộc mạnh mẽ của Nhà nước, đồng thời cần sự đồng hành của doanh nghiệp để đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.

Một ví dụ điển hình là dự án “Phát triển mô hình nông nghiệp bền vững kết hợp với tự động hóa trong nuôi cua tại ĐBSCL, ứng dụng hệ thống tuần hoàn, cánh tay robot, AI và IoT để tối ưu năng suất và đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu”, do TS Lê Mai Tùng, Công ty TNHH Seamorny Việt Nam, triển khai. Dự án xây dựng quy trình nuôi cua tự động, từ phát hiện cua lột bằng AI, cho cua ăn bằng robot đến thông báo thu hoạch và quản lý trang trại qua ứng dụng điện thoại.

5.JPG
TS Lê Mai Tùng cùng đồng nghiệp. Ảnh: QUANG HUY

Theo nghiên cứu, mô hình này giúp nâng tỷ lệ sống của cua lên khoảng 90–95%, cao hơn đáng kể so với phương thức nuôi truyền thống. Giải pháp cũng góp phần tăng năng suất, tạo ra sản phẩm cua đạt chất lượng, có khả năng truy xuất nguồn gốc, đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu. Hiện mô hình đã được nhân rộng tại một số địa phương như Cà Mau, Đồng Nai và chuyển giao cho các đơn vị có nhu cầu.

"Tuy nhiên để dự án triển khai được, cần trợ lực từ vốn mồi của nhà nước. Là nguồn vốn ban đầu, quy mô không lớn, từ ngân sách, các quỹ đầu tư hoặc chương trình hỗ trợ, nhằm giúp dự án có điều kiện ươm tạo, hoàn thiện sản phẩm và chứng minh tính khả thi", TS Lê Mai Tùng mong mỏi.

2.JPG
TS Trần Quý (hàng đầu bên trái). Ảnh: QUANG HUY

Ít nhất 10 nghiên cứu từ ngân sách nhà nước ra thị trường

Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin, Thống kê và Ứng dụng tiến bộ KH-CN, Sở KH-CN TPHCM, Vương Đình Thành cho biết, giai đoạn 2014-2018 tỷ lệ thương mại hóa kết quả KH-CN đạt thấp (chỉ khoảng 13%). Nguyên nhân xuất phát từ quy mô doanh nghiệp nhỏ, hạn chế về tài chính, mức độ chấp nhận rủi ro thấp, hệ thống tổ chức hỗ trợ còn yếu, đặc biệt là cơ chế quản lý tài sản và giao quyền sở hữu kết quả nghiên cứu từ ngân sách nhà nước chưa đủ hấp dẫn. Điều này khiến nhiều doanh nghiệp e ngại đầu tư dài hạn.

Đồng quan điểm, bà Nguyễn Thị Thu Sương, Trưởng Phòng Phát triển KH-CN, Sở KH-CN TPHCM nhìn nhận, thành phố sở hữu nguồn lực nghiên cứu lớn nhất cả nước với mạng lưới viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp đổi mới sáng tạo đông đảo. Do đó, tỷ lệ thương mại hóa thấp của các sản phẩm nghiên cứu là lãng phí nguồn lực.

4.JPG
Bà Nguyễn Thị Thu Sương. Ảnh: QUANG HUY

Tháng 12-2025, UBND TPHCM ban hành Đề án “Thí điểm chính sách tạo động lực thương mại hóa, đưa nhanh kết quả nghiên cứu và tài sản trí tuệ hình thành từ ngân sách nhà nước vào sản xuất, kinh doanh”.

Trọng tâm của đề án là đột phá cơ chế giao quyền khai thác kết quả nghiên cứu, trao quyền cho doanh nghiệp và cá nhân ngoài tổ chức chủ trì, đưa doanh nghiệp vào trung tâm thương mại hóa và nhận hỗ trợ tài chính nhà nước cho sản xuất thử, sở hữu trí tuệ, kết nối thị trường, nhằm thúc đẩy nhanh chóng đưa sản phẩm khoa học công nghệ ra thị trường.

Thành phố sẽ chấp nhận rủi ro có kiểm soát trong hoạt động thương mại hóa. Trong trường hợp sản phẩm không thành công trên thị trường, các tổ chức, cá nhân tham gia thí điểm được chấp nhận rủi ro theo quy định của pháp luật.

Bên cạnh đó, các đơn vị tư vấn, định giá, kết nối thị trường, nhà đầu tư và doanh nghiệp lớn tại TPHCM sẽ được phát huy vai trò rõ nét hơn, giúp kết quả nghiên cứu đi trọn vẹn vòng đời sản phẩm.

“Trong giai đoạn thí điểm từ năm 2026 - 2028, thành phố kỳ vọng đưa ít nhất 10 sản phẩm KH-CN hình thành từ nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước ra thị trường. Cùng với đó, tỷ lệ tài sản trí tuệ được khai thác thương mại dự kiến nâng lên mức 8-10%”, bà Nguyễn Thị Thu Sương cho biết.

Tin cùng chuyên mục