Dấu ấn từ thực tiễn Đổi mới
Ngày 19-5-2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 09-NQ/TW về xây dựng và phát triển TPHCM trong kỷ nguyên mới; định hướng quy hoạch phát triển thành phố đến năm 2075, với mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân 10%/năm trong 20 năm 2026-2045 để đạt GRDP/người khoảng 75.000 USD vào năm 2045; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,9; phát thải ròng bằng 0; xác định vị thế TPHCM trong mạng lưới thành phố toàn cầu...
Nhìn lại 50 năm qua, nhất là 40 năm Đổi mới, có một đóng góp của TPHCM khó đo lường bằng GDP, thu ngân sách hay các chỉ số kinh tế khác. Đó là đóng góp vào quá trình hình thành và hoàn thiện thể chế kinh tế của đất nước; là quá trình đi từ “bung sản xuất” đến kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong hành trình ấy, nhân dân TPHCM, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ thành phố, đã thể hiện rõ truyền thống năng động, sáng tạo, nghĩa tình, không chịu bó tay trước khó khăn. Có lúc thành phố phải mạnh dạn tìm cách tháo gỡ khó khăn, vượt qua những quy định đã không còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống - điều thường được gọi là “xé rào”. Dù trải qua không ít thăng trầm, TPHCM ngày càng khẳng định vai trò đầu tàu tăng trưởng, trung tâm hội nhập và là một trong những địa phương có nhiều đóng góp quan trọng vào tiến trình đổi mới tư duy quản lý kinh tế.
Đường lối Đổi mới tại Đại hội VI được đúc kết từ thực tiễn phát triển đất nước, trong đó có dấu ấn từ đời sống kinh tế năng động của TPHCM. Giai đoạn 1979-1986, trước những khó khăn gay gắt về lương thực cho người dân, vật tư và nguyên liệu cho xí nghiệp, lãnh đạo thành phố lúc bấy giờ đã không chịu “bó tay”, mà sáng tạo nhiều giải pháp để gỡ khó trong điều kiện cơ chế quản lý còn nhiều ràng buộc. Nhiều mô hình công nghiệp quốc doanh “tự cứu mình” xuất hiện như Viso, Thuốc lá Khánh Hội, Bia Sài Gòn, Dệt Thành Công, Dệt Phong Phú… Các đơn vị này đẩy mạnh sản xuất “phụ” ngoài kế hoạch pháp lệnh. Chính phần “phụ” ấy lại chứa đựng sức sống mới, bởi nó bắt đầu có hơi thở của thị trường, đặt ra yêu cầu phải thay đổi cơ chế quản lý. Sự năng động ấy từng nhận không ít phê phán. Tuy nhiên, lãnh đạo thành phố vẫn kiên trì thực hiện, với phương châm lấy thực tiễn sinh động để báo cáo đầy đủ, tỉ mỉ với lãnh đạo cao nhất ở Trung ương về những hướng đổi mới xuất hiện từ đời sống.
Từ thực tiễn TPHCM, Chính phủ ban hành Quyết định số 25-CP ngày 21-1-1981 về phát huy quyền chủ động sản xuất - kinh doanh và quyền tự chủ tài chính của xí nghiệp quốc doanh. Đây là bước đổi mới ban đầu về cơ chế quản lý, đồng thời là cơ sở xác lập quyền tự chủ của xí nghiệp quốc doanh sau Đổi mới. Việc thử nghiệm giúp nhiều xí nghiệp phục hồi sản xuất, đời sống người lao động được cải thiện, thành phố có thêm nguồn hàng.
Từ đầu thập niên 1990, hệ thống chính sách, pháp luật về thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước được hình thành. Sau 15 năm Đổi mới, Đại hội IX khẳng định mô hình kinh tế nước ta là kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn TPHCM từ đầu thập niên 1980 được xem là nơi hình thành nhiều nhân tố mới, đóng góp vào đổi mới cơ chế quản lý kinh tế. Nhiều mô hình thí điểm, thiết chế và cách làm từ TPHCM đã có sức lan tỏa ra cả nước, như Khu chế xuất Tân Thuận, Trung tâm Giao dịch chứng khoán TPHCM, Quỹ Đầu tư phát triển đô thị, ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên, mô hình “một cửa, một dấu”, chính sách xóa đói, giảm nghèo…
Bước sang thập niên 2000, Trung ương tiếp tục mở rộng phân cấp, phân quyền, cho phép TPHCM thí điểm nhiều chính sách mới. Những năm gần đây, Quốc hội ban hành Nghị quyết 54, Nghị quyết 98, Nghị quyết 260 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố. Chính sự năng động từ thực tiễn địa phương là cơ sở quan trọng để nghiên cứu, điều chỉnh và hoàn thiện thể chế.
Tăng trưởng “từ nhờ vốn sang nhờ tri thức”
TPHCM đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số giai đoạn 2026-2030 và những năm tiếp theo. Mục tiêu này không chỉ thể hiện khát vọng bứt phá khỏi giới hạn của mô hình tăng trưởng cũ, mà còn gắn với yêu cầu tiếp tục giữ vai trò đầu tàu kinh tế, chứng minh hiệu quả của các cơ chế đặc thù, thí điểm, hướng tới siêu đô thị văn minh, hiện đại, đáng sống và đô thị toàn cầu.
TPHCM hiện có diện tích 6.773km2, dân số khoảng 14 triệu người, đóng góp 23,1% GDP cả nước và 30,2% tổng thu ngân sách cả nước. Tuy nhiên, mô hình tăng trưởng dựa vào vốn đầu tư, gia công, lao động chi phí thấp và bất động sản đang giảm hiệu quả. Hệ số ICOR (đo lường hiệu quả sử dụng vốn đầu tư) còn cao, cho thấy hiệu quả sử dụng vốn chưa tương xứng; năng suất lao động tăng chậm, đóng góp của khoa học - công nghệ vào năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) còn hạn chế. Nếu không chuyển đổi kịp thời, động lực tăng trưởng sẽ suy yếu. Vì vậy, chuyển đổi mô hình phát triển dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và kinh tế số là yêu cầu chiến lược. Nếu duy trì được tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2026-2035, quy mô kinh tế TPHCM sẽ tăng mạnh (đạt khoảng 310 tỷ USD vào năm 2035), tạo nền tảng cho một đô thị phát triển cao, hiện đại, đáng sống.
Trọng tâm chuyển đổi trước hết nằm ở chính sách và thể chế. Công nghệ chỉ phát huy hiệu quả khi có khung thể chế phù hợp. Thành phố đang đứng trước thời cơ lớn khi 2 điểm nghẽn cố hữu là thể chế và hạ tầng giao thông đang từng bước được tháo gỡ. Việc mở rộng phân cấp, phân quyền, nâng cao tính tự chủ theo tinh thần “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm” đã được thể hiện qua một số cơ chế, chính sách đặc thù dành cho TPHCM; các cơ chế đặc biệt về đường sắt đô thị và Trung tâm Tài chính quốc tế.
Thành phố đang kỳ vọng dự án Luật Đô thị đặc biệt sớm được Quốc hội xem xét, thông qua, hình thành khung pháp lý hệ thống, đồng bộ cho một đô thị đặc biệt. Đây không chỉ là yêu cầu quản lý một đô thị có quy mô lớn, mà còn là điều kiện để TPHCM khai thác tốt hơn các lợi thế trong không gian phát triển mới. Về quan điểm, cần đổi mới tư duy theo 4 điểm chính. Thứ nhất, xây dựng niềm tin dài hạn và bộ máy hành chính đủ năng lực triển khai hiệu quả Luật Đô thị đặc biệt, nhất là đưa Nghị quyết 57-NQ/TW và Nghị quyết 68-NQ/TW vào thực tiễn; thí điểm cơ chế vượt trội cho các lĩnh vực mới như fintech (công nghệ tài chính), trí tuệ nhân tạo, cùng mô hình Trung tâm Tài chính quốc tế.
Thứ hai, tập trung phát triển hạ tầng chiến lược, gồm giao thông kết nối, logistics vùng, đường sắt đô thị, hạ tầng số, năng lượng tái tạo. Thứ ba, tái cấu trúc không gian và ngành kinh tế theo hướng công nghệ cao, ưu tiên bán dẫn, công nghệ sinh học, logistics thông minh, dịch vụ tài chính; triển khai thành công Trung tâm Tài chính quốc tế và khu thương mại tự do Cái Mép Hạ trong không gian phát triển mới của TPHCM. Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, tăng liên kết doanh nghiệp - đại học - viện nghiên cứu; thu hút chuyên gia quốc tế, Việt kiều và nhân tài trong nước.
TPHCM chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ “nhờ vốn” sang “nhờ tri thức”, nâng cao đóng góp của năng suất và đổi mới sáng tạo, từng bước trở thành trung tâm công nghệ - tài chính - khởi nghiệp của Đông Nam Á. Luật Đô thị đặc biệt là cơ hội để thành phố có một khung thể chế đủ mạnh, ổn định và đồng bộ hơn, qua đó khai thác tốt hơn lợi thế trong kỷ nguyên mới.
Năng động và nghĩa tình
Trong dòng chảy phát triển của TPHCM, năng động, sáng tạo luôn gắn với nghĩa tình. Thành phố đi đầu trong nhiều mô hình kinh tế, thể chế, nhưng vẫn bền bỉ thực hiện các chương trình giảm nghèo, chăm lo người có công, hỗ trợ người lao động, mở rộng chính sách an sinh xã hội. Từ sự sẻ chia với người yếu thế trong đô thị đến trách nhiệm với các tỉnh, thành khi khó khăn, TPHCM đã tạo nên một bản sắc phát triển riêng: lấy con người làm trung tâm, lấy thực tiễn làm thước đo và lấy nghĩa tình làm nền tảng cho sức bền của đô thị mang tên Bác.