Người dân nói “có”, phòng TN-MT nói “không”
Cô giáo Lê Trung Kiên với chồng đơn khiếu nại Công ty Lê Gia gây ô nhiễm từ năm 2002 đến nay.
Ngày 28-8-2007, bà Lê Trung Kiên (ngụ 132A ấp 6, xã Xuân Thới Thượng huyện Hóc Môn) phản ánh lên UBND huyện về tình trạng Công ty Lê Gia xả khói và nước thải gây ô nhiễm môi trường.
Mãi đến ngày 21-9, đoàn kiểm tra liên ngành của huyện mới đến kiểm tra vào thời điểm công ty… không xả khói, không gây mùi hôi trong không khí.
Vì lý do trên, đoàn không thể đo chất lượng khí thải. Đoàn cũng lấy một mẫu nước thải ở ao chứa nước tại nhà dân để so sánh.
Qua ghi nhận về mặt cảm quan, đoàn kết luận nước trong ao không giống nước thải của hồ hiếm khí. Thời điểm kiểm tra trời lại đang mưa nên… hẹn quay lại vào ngày nắng ráo.
Đến ngày 25-9, đoàn quay lại đo đạc, hẹn với bà con sẽ tham khảo ý kiến của Sở TN-MT và đề xuất hướng xử lý. Tuy nhiên, nhiều người dân tỏ ý không hy vọng vào kết quả xử lý vì ngay từ năm 2002, họ đã phản ánh tình trạng này nhưng sau nhiều lần kiểm tra, cấp xã, huyện vẫn kết luận việc sản xuất của công ty không gây tác hại đến môi trường và đến nay tình hình vẫn không có gì thay đổi.
Khiếu nại, phản ánh về môi trường không được cơ quan chức năng địa phương giải quyết nhanh chóng, triệt để - đó là nỗi bức xúc của hầu hết người dân sống gần khu vực có nhiều nhà máy, KCN gây ô nhiễm trên địa bàn TPHCM.
Lòng vòng cơ chế lập đoàn kiểm tra liên ngành
Khi nhận được phản ánh của người dân, theo nguyên tắc, phòng TN-MT quận, huyện phải báo cáo lên UBND quận huyện để thành lập đoàn kiểm tra liên ngành gồm đại diện phòng TN-MT, phòng kinh tế, chi cục thuế, các ban ngành đoàn thể tại địa phương và cơ quan chuyên môn có chức năng đo đạc.
Để triệu tập đầy đủ thành phần của đoàn kiểm tra liên ngành, thông thường phải chờ các cơ quan xếp lịch, mất từ… nửa tháng đến một tháng, có khi lâu hơn. Chị Lê Thị Thủy, Phó phòng TN-MT quận 9 băn khoăn: “Nguyên tắc đo đạc để tính các chỉ số về môi trường là phải đo lúc nhà máy hoạt động hết công suất.
Nhiều khi đoàn kiểm tra liên ngành đến nhưng không trúng vào thời điểm nên kết quả đo đạc thường không chính xác, dẫn đến kết luận: hoạt động của doanh nghiệp (DN) không gây tác hại cho môi trường”.
Anh Đặng Hải Bình, cán bộ phòng TN-MT quận 12 cho biết thêm: “Một khó khăn lớn là phòng TN-MT không thể kiểm tra đột xuất các DN bị nghi ngờ hoặc bị người dân khiếu nại gây ô nhiễm. Việc phải thông báo với DN trước khi có đoàn chuyên ngành tới kiểm tra đã tạo cơ hội cho DN có điều kiện đối phó”.
Điều này đã tạo nên mâu thuẫn giữa khiếu nại của người dân và kết quả kiểm tra, phân tích của ngành môi trường, dẫn đến việc người dân khiếu nại nhiều lần. Nhiều DN lắp đặt đầy đủ hệ thống xử lý nước, khí thải theo đúng quy định nhưng vận hành lại theo kiểu đối phó, rất khó kiểm tra, xử phạt.
Thiếu thiết bị, cán bộ và... không có tiền
Chỉ rõ ao rau muống bị ô nhiễm sát bên nhà, bốc mùi hôi khó chịu.
Là cán bộ lâu năm chuyên trách về môi trường, anh Phạm Thanh Phước, nhân viên phòng TN-MT quận 9 cho biết: “Mỗi lần người dân phản ánh, chúng tôi có thể xuống ngay hiện trường để kiểm tra.
Tuy nhiên, do không có phương tiện đo đạc chuyên môn nên biên bản mà chúng tôi có thể lập chỉ ghi chung chung là “theo ghi nhận cảm quan”, “theo quan sát bằng mắt thường… “.
Trong khi đó, theo Nghị định 81/2006/ NĐ- CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, phải có số liệu chính xác về mức vượt chuẩn cho phép bao nhiêu lần, mới được áp dụng mức phạt tiền (Nghị định 81 quy định mức phạt tiền từ 100.000 đồng đến 70 triệu đồng).
Cán bộ không trưng được bằng chứng cụ thể, các DN không chịu ký biên bản xử phạt. Phòng TN-MT chỉ biết nhằm vào các vi phạm như không có hệ thống xử lý khí thải, sử dụng chất đốt không đúng quy định, không có giấy đăng ký cam kết bảo vệ môi trường… để phạt DN. Dĩ nhiên, mức phạt cho những lỗi này không thấm vào đâu so với tội xả thải gây ô nhiễm”.
Để có kết quả chính xác, phòng TN-MT phải lấy mẫu rồi gửi lên Trung tâm Sắc Ký hoặc Viện Khoa học Nhiệt đới với chi phí 1 - 3 triệu đồng/lần. Thường thì DN chỉ chịu trả 1-2 lần. Nếu người dân vẫn khiếu nại, phải kiểm tra tiếp thì DN không chi trả nữa.
Chị Mai Thị Mỹ Phượng, cán bộ Phòng TN-MT huyện Hóc Môn nói, nhiều lần cơ quan chị phải dùng đến quỹ lương của cán bộ trong phòng để chi trả cho việc phân tích mẫu. Trong khi đó, phòng TN-MT quận 12 phải xin kinh phí từ UBND quận”.
Nhiều trường hợp, DN có mức vi phạm nằm ngoài thẩm quyền xử lý của cấp quận, huyện (khi mức phạt trên 20 triệu đồng) nên Phòng TN-MT chuyển hồ sơ cho UBND huyện phê duyệt rồi gửi lên Sở TN-MT.
Quá trình chuyển hồ sơ lòng vòng mất hơn 1 tháng. Quá 1 tháng, biên bản vi phạm được lập đã không còn hiệu lực. Cán bộ Phòng TN-MT phải xuống kiểm tra, lập lại biên bản mới, lấy lại mẫu gửi đi phân tích rồi cho ra kết luận. Sự lòng vòng, khuất tất này cũng khiến thời gian xử lý ô nhiễm kéo dài.
Để công tác xử lý ô nhiễm môi trường ở cấp cơ sở có hiệu quả, rất cần một quy chế phối hợp chặt chẽ giữa phòng TN-MT và các cơ quan chuyên môn có nghiệp vụ, đảm bảo cho việc kiểm tra nhanh chóng, chính xác, đúng người, đúng tội.
Ngoài ra, phòng TN-MT các quận, huyện hiện chỉ có 1-2 cán bộ phụ trách về môi trường. Đây cũng không phải là cán bộ chuyên trách nên công tác giám sát môi trường tại cơ sở bị buông lỏng.
Thiết nghĩ, tại những quận, huyện tập trung nhiều cơ sở sản xuất, KCX-KCN, TP có thể bố trí biên chế cán bộ chuyên trách về môi trường để việc kiểm tra, giám sát và xử lý được kịp thời, chặt chẽ.
MAI HƯƠNG - QUÝ LÂM