Dây chuyền sản xuất áo sơ mi của Công ty Việt Tiến. Ảnh: K.T.G.
Năm 2007 có thể coi là năm tăng trưởng “nóng” của ngành dệt may với giá trị xuất khẩu ước đạt 7,8 tỷ USD, vượt 450 triệu USD so với kế hoạch và tăng tới 31% so với 2006. Tuy nhiên, tại cuộc họp triển khai kế hoạch sản xuất – xuất khẩu hàng dệt may năm 2008, vừa tổ chức tại Hà Nội, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam Lê Quốc Ân cảnh báo: Năm 2008 sẽ là một năm “căng thẳng” đối với ngành dệt may với những “rào cản” đến từ thị trường chủ lực Hoa Kỳ...
Theo Thứ trưởng Bộ Công thương Bùi Xuân Khu, dự kiến năm 2007, kim ngạch xuất khẩu dệt may ước đạt 7,8 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2006 và lần đầu tiên, mặt hàng dệt may đã “qua mặt” dầu thô để trở thành mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất. Đóng góp số 1 cho mức tăng trưởng ấn tượng của hàng dệt may này là thị trường Hoa Kỳ với giá trị kim ngạch đạt 4,4 – 4,5 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 55% tổng giá trị xuất khẩu dệt may, dù xuất khẩu sang thị trường này gặp khá nhiều khó khăn do chính sách bảo hộ không rõ ràng của Hoa Kỳ.
Bên cạnh khai thác tối đa những thị trường lớn, truyền thống, các DN cũng đã mở rộng được một số thị trường mới nên phần lớn các thị trường này đều có mức tăng trưởng cao như: Thổ Nhĩ Kỳ tăng trên 500%, Nam Phi tăng trên 400%, Argentina tăng trên 60%, Canada tăng hơn 35%...
Năm 2008, dệt may Việt Nam đặt mục tiêu xuất khẩu 9,5 tỷ USD, tăng 21,8% so với năm 2007. Tuy tốc độ tăng trưởng đặt ra thấp hơn năm trước nhưng ông Lê Quốc Ân vẫn bày tỏ sự băn khoăn: “Về lý thì ngành dệt may Việt Nam không từ chối được mục tiêu này vì năm 2007 đã tăng trên 30%, và nếu năm 2008 đạt kim ngạch xuất khẩu 9,5 tỷ USD thì ngành dệt may đã về đích trước 2 năm so với mục tiêu đặt ra trong Chiến lược phát triển xuất khẩu dệt may đến năm 2010”.
Tuy nhiên, theo phân tích của ông Ân, năm 2008, ngành dệt may Việt Nam sẽ phải đối mặt với 4 trở lực lớn: Thứ nhất, sự tăng trưởng lớn của 4 “đại gia”: Trung Quốc, Bangladesh, Campuchia và Ấn Độ. Thứ hai, nguy cơ tiềm ẩn từ thị trường Hoa Kỳ, do lần đánh giá thứ 2 (vào tháng 3-2008) sẽ khó khăn hơn rất nhiều, bởi trong 6 tháng cuối năm 2007, tốc độ tăng xuất khẩu vào Hoa Kỳ đã lên tới 40%. Thứ ba, vấn đề đình công và thiếu công nhân ngành dệt may đang ngày một trầm trọng.
Và thứ tư, cần phải giải quyết vấn đề tiền lương ngành dệt may cho tương xứng với những ngành khác. Ông Lê Quốc Ân nêu dẫn chứng: Cách đây 3 năm, Thái Lan đã xuất khẩu 6,5 tỷ USD hàng dệt may nhưng từ đó đến nay, giá trị xuất khẩu mặt hàng đó của nước này vẫn không nhúc nhích lên bởi lương ngành dệt may không tăng. Vì vậy, để tránh “vết xe đổ” này, DN và người lao động phải ngồi lại với nhau để xây dựng một chế độ đãi ngộ phù hợp với từng khu vực: lương, chế độ ăn ở tối thiểu. Các DN dệt may nên đi theo chuẩn này.
Thứ trưởng Bùi Xuân Khu phân tích thêm: Hoa Kỳ – thị trường chiếm tới 55% tổng kim ngạch xuất khẩu dệt may - sẽ tiếp tục tiềm ẩn rủi ro do chương trình giám sát vẫn được duy trì. Cho đến nay, Bộ Thương mại Hoa Kỳ vẫn chưa đưa ra bất kỳ một hành động cụ thể nào nhằm giảm bớt tác động tiêu cực của chương trình này như: không giảm bớt số lượng mặt hàng nằm trong diện giám sát và cũng không nêu các tiêu chí, điều kiện cụ thể làm cơ sở tự khởi kiện điều tra chống bán phá giá hàng dệt may Việt Nam.
Khả năng cơ chế giám sát này sẽ được duy trì đến hết năm 2008. Trong khi đó, Hiệp hội Dệt may Việt Nam bày tỏ lo lắng: Năm 2008 sẽ là năm căng thẳng nhất bởi có tới 2 lần Hoa Kỳ sẽ tiến hành đánh giá vào tháng 3 và tháng 8 trong khi tốc độ tăng trưởng xuất khẩu của DN Việt Nam vào thị trường này sẽ không dưới 40% và giá đang có xu hướng giảm.
VIỆT LAN