Kể từ ngày 1-7-2007, Luật Công chứng và Nghị định 79/2007/NĐ-CP của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký có hiệu lực thi hành. Trong các ngày từ 24-7 đến 26-7, Sở Tư pháp đã tổ chức tập huấn về công tác chứng thực, cấp bản sao cho cán bộ tư pháp quận – huyện, phường – xã trên địa bàn thành phố. Tại buổi tập huấn, các công chứng viên và cán bộ tư pháp cho rằng việc thực hiện công chứng, chứng thực theo quy định mới đã và sẽ tiếp tục phát sinh một số vướng mắc.
“Đối tượng có thật” - khó xác minh
Người dân công chứng giấy tờ nhà đất. Ảnh: THÙY VY
Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo một số phòng công chứng vẫn khẳng định việc xác minh “đối tượng có thật” là điểm vướng mắc lớn nhất trong hoạt động công chứng hiện nay. Theo quy định tại Điều 5 của Luật Công chứng, công chứng viên phải xác định được đối tượng của giao dịch, hợp đồng là có thật trước khi công chứng vào các giao dịch, hợp đồng này.
Quy định trên đã “bó tay” các công chứng viên, vì họ khó có điều kiện và khả năng kiểm tra được tính có thật của tài sản giao dịch. Ông Phan Văn Cheo, Trưởng phòng Công chứng số 1 TPHCM, lấy ví dụ: Bên A đồng ý cho bên B vay 1 tỷ đồng, như vậy chẳng lẽ phải mang 1 tỷ đồng lên cho công chứng viên xem; và nếu công chứng viên xem thì cũng khó biết được đây là tiền thật hay giả để quyết định công chứng vào hợp đồng cho vay?
Là người đứng đầu cơ quan chủ quản của các phòng công chứng, ông Nguyễn Đức Chính, Giám đốc Sở Tư pháp TPHCM, rất đồng cảm với cái khó của công chứng viên, nhưng ông cho biết do Chính phủ đang chuẩn bị ban hành nghị định hướng dẫn thi hành Luật Công chứng, trong đó bao gồm hướng dẫn về xác minh “đối tượng có thật”, nên sở sẽ không có văn bản kiến nghị về vấn đề này.
Chứng thực bản dịch - dân vất vả
Theo Quyết định 94 của UBND TPHCM, từ ngày 29-7-2007, việc công chứng tại TPHCM không còn phân chia địa hạt như trước đây. Trưởng phòng Công chứng số 1 TPHCM Phan Văn Cheo dự báo các phòng công chứng sẽ gặp nhiều lúng túng trong thời gian đầu thực hiện việc xóa bỏ địa hạt trong công chứng. |
Một trong những nhiệm vụ mới của các phòng tư pháp quận – huyện là chứng thực chữ ký của người dịch trong bản dịch các giấy tờ, văn bản từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt hoặc từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài (trước đây những bản dịch của các giấy tờ, văn bản này do phòng công chứng thực hiện chứng thực).
Theo nhiều cán bộ tư pháp, với điều kiện đặt ra là người dịch phải chứng minh được mình thông thạo tiếng nước ngoài cần dịch, người dân bị khó vì không thể biết được ai đáp ứng được yêu cầu này để nhờ dịch giùm mình. Chỉ thị 17/2007/CT-UBND ngày 16-7-2007 của UBND TPHCM triển khai thực hiện Nghị định 79/2007/NĐ-CP mở ra hướng giải quyết khi quy định: “Để đáp ứng nhu cầu của người dân về dịch thuật, các phòng tư pháp được xây dựng đội ngũ cộng tác viên dịch thuật trên cơ sở cộng tác viên hiện có của các phòng công chứng”. Tuy nhiên, thực hiện việc này không dễ dàng.
Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Trưởng phòng Tư pháp quận 3, nêu vấn đề: “Việc tổ chức và quản lý đội ngũ cộng tác viên dịch thuật chuyên nghiệp rất khó vì hiện nay chưa có cơ chế cụ thể. Trường hợp thành lập được thì lại gặp vấn đề thu lệ phí như thế nào. Nếu không giải quyết được thì người dân sẽ phiền hà vì phải lên xuống nhiều lần, cũng như phòng tư pháp khó mà trả hồ sơ cho người dân đúng theo hạn luật định”.
Nhiều trường hợp chưa được quy định
Người dân chuẩn bị hồ sơ tại Phòng Công chứng số 1, TPHCM. Ảnh: THÙY VY
Nghị định 79/2007/NĐ-CP không quy định trường hợp người không ký được hoặc không biết chữ thì có được điểm chỉ (lăn dấu vân tay) vào văn bản chứng thực hay không, thế nhưng trong thực tế có rất nhiều người thuộc diện này. Tại buổi tập huấn, ông Hoàng Xuân Hoan, Trưởng phòng Công chứng số 2 TPHCM, đã phải hướng dẫn các cán bộ tư pháp nên linh hoạt giải quyết cho người dân. Theo ông Hoan, dấu vân tay có đặc điểm riêng biệt, xác suất vân tay giống nhau có tỷ lệ rất thấp (khoảng vài phần triệu) nên có thể căn cứ vào dấu vân tay để xác định nhận dạng của người yêu cầu chứng thực.
Đối với việc chứng thực ngoài trụ sở, Nghị định 79/2007/NĐ-CP cũng không có quy định, trong khi đây là nhu cầu có thật, dẫn đến sự lúng túng cho cán bộ tư pháp. Trả lời thắc mắc của nhiều cán bộ tư pháp, Sở Tư pháp cho rằng những trường hợp yêu cầu chứng thực ngoài trụ sở có nội dung không trái luật thì cứ vận dụng Nghị định 75/2000/NĐ-CP ngày 8-12-2000 của Chính phủ trước đây về công chứng, chứng thực để linh động giải quyết.
Ái Chân