Tự động phát hiện vi phạm
Ông Trần Hoàng, Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả (Bộ VH-TT-DL), nhận định, công nghệ số và AI đang tái định hình hệ sinh thái nội dung toàn cầu. Theo ông, trong kỷ nguyên mới, bản quyền không chỉ là công cụ pháp lý mà đã trở thành hạ tầng thiết yếu của nền kinh tế sáng tạo.
Khi nội dung số có thể được tạo ra, sao chép và phát tán gần như tức thời, việc bảo vệ quyền tác giả cần được thực hiện theo hướng minh bạch, hiệu quả và thích ứng với công nghệ. Ông cũng cho rằng, trong môi trường số, các vấn đề bản quyền đã vượt ra ngoài phạm vi một quốc gia, vì vậy hợp tác quốc tế là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả thực thi quyền tác giả trên môi trường số.
Chia sẻ kinh nghiệm của Hàn Quốc, ông Chung Seung Pil, Trưởng phòng Kỹ thuật thông tin thuộc Cơ quan Bảo vệ bản quyền Hàn Quốc, cho biết Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống giám sát ứng dụng AI và dữ liệu lớn để tự động nhận diện nội dung vi phạm trên internet. Nếu trước đây việc giám sát chủ yếu tập trung vào website chia sẻ dữ liệu thì hiện nay các hành vi phát tán trái phép đã mở rộng sang nhiều nền tảng như truyện tranh, phim, nhạc và tiểu thuyết trực tuyến...
Theo ông Chung Seung Pil, hệ thống AI có thể tự động tìm kiếm website nghi vấn qua từ khóa, phân tích mức độ vi phạm, nhận diện nội dung sao chép và truy vết nguồn phát tán ban đầu… Công nghệ này còn phân tích mối liên hệ giữa các website thông qua địa chỉ IP, email hay banner quảng cáo để xác định mạng lưới vi phạm. “Trong thời đại nội dung có thể lan truyền chưa đầy một giờ, việc ứng phó từng phần không còn đủ để ngăn chặn”, ông Chung Seung Pil nói.
Hoàn thiện luật để bảo hộ sáng tạo
Song song với công nghệ, tại diễn đàn, Việt Nam cũng cung cấp nhiều thông tin về việc hoàn thiện hành lang pháp lý nhằm thích ứng với sự phát triển của AI và môi trường số. Bà Phạm Thị Kim Oanh, Phó Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả, cho biết Việt Nam đã sửa đổi Luật Sở hữu trí tuệ năm 2025 cùng nhiều nghị định hướng dẫn nhằm bổ sung quy định liên quan đến AI, nền tảng số và trách nhiệm bảo vệ bản quyền trên internet.
Theo bà Phạm Thị Kim Oanh, các quy định mới yêu cầu người sử dụng AI phải chịu trách nhiệm về nội dung và tính hợp pháp của sản phẩm do mình tạo ra. Điều này nhằm hạn chế tình trạng sử dụng AI để sao chép hoặc biến đổi tác phẩm của người khác.
Liên quan đến việc sử dụng dữ liệu để huấn luyện AI, bà Phạm Thị Kim Oanh cho biết, pháp luật Việt Nam đã bổ sung quy định về giới hạn quyền trong trường hợp sử dụng dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học, thử nghiệm và đào tạo hệ thống AI. Tuy nhiên, hoạt động khai thác dữ liệu phải đáp ứng nhiều điều kiện như không gây ảnh hưởng bất hợp lý đến quyền lợi hợp pháp của tác giả và không thay thế việc khai thác thương mại bình thường của chủ thể quyền.
Việt Nam cũng tăng cường chế tài xử lý vi phạm trên môi trường số. Các nền tảng trực tuyến có trách nhiệm gỡ bỏ nội dung vi phạm theo yêu cầu của cơ quan quản lý hoặc chủ thể quyền. Mức bồi thường thiệt hại vật chất đối với hành vi xâm phạm bản quyền đã được nâng lên đến 1 tỷ đồng. Cùng đó, Việt Nam cũng bổ sung quy định xử phạt với hành vi lợi dụng cơ chế thông báo gỡ bỏ để cung cấp thông tin sai sự thật…
Trong kỷ nguyên sáng tạo, quốc gia có thể chế phù hợp và hợp tác hiệu quả sẽ có nhiều lợi thế hơn. Cục trưởng Cục Bản quyền tác giả Trần Hoàng tin rằng, khi các giá trị sáng tạo được bảo vệ tốt hơn, công nghệ được khai thác hiệu quả hơn, môi trường phát triển cho các ngành công nghiệp văn hóa sẽ ngày càng bền vững.
Tại Hàn Quốc, hệ thống AI có thể phân tích nguồn truy cập của người dùng vào website vi phạm thông qua tìm kiếm trực tiếp, từ khóa hay liên kết từ nền tảng khác. Dữ liệu này giúp cơ quan quản lý xác định đường phát tán nội dung trái phép và tăng tốc xử lý.
Theo ông Chung Seung Pil, đây là giải pháp cần thiết khi các website phát tán trái phép liên tục thay đổi tên miền và mở rộng sang nhiều quốc gia. Hệ thống giám sát này cũng được phát triển theo hướng ước tính tỷ lệ nội dung vi phạm xuất hiện trên từng website nhằm hỗ trợ cơ quan quản lý đánh giá mức độ nguy hiểm của từng nền tảng.