Phải lấy dân và doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ

Sáng nay 29-4, tại TPHCM, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị doanh nghiệp Việt Nam năm 2016 với chủ đề: “Doanh nghiệp Việt Nam - Động lực phát triển kinh tế của đất nước”.
Phải lấy dân và doanh nghiệp làm đối tượng phục vụ

(SGGPO).- Sáng nay 29-4, tại TPHCM, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì Hội nghị doanh nghiệp Việt Nam năm 2016 với chủ đề: “Doanh nghiệp Việt Nam - Động lực phát triển kinh tế của đất nước”.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định DN là động lực phát triển kinh tế của đất nước. Ảnh Cao Thăng

Thông điệp mà người đứng đầu Chính phủ muốn đưa ra tại hội nghị lần này đó là: Doanh nghiệp (DN) là động lực phát triển kinh tế đất nước. Chính phủ tạo điều kiện thuận lợi nhất để khởi nghiệp kinh doanh, thúc đẩy các DN phát triển cả về số lượng và chất lượng.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp gỡ doanh nghiệp. Ảnh Cao Thăng 

Theo thông tin từ ban tổ chức, hội nghị được thực hiện vừa trực tiếp vừa trực tuyến. Tại điểm cầu Hội trường Thống nhất TPHCM có khoảng 300 DN, dân doanh, 50 DN có vốn đầu tư nước ngoài và 20 hiệp hội DN như: AmCham, Eurocham, Phòng Thương mại Hàn Quốc, Nhật Bản… tham dự. Ngoài ra, mỗi điểm cầu tại 62 tỉnh, thành phố trên cả nước có khoảng 50 đến 100 đại diện DN tham dự.

Trước đó, tại cuộc họp báo giới thiệu về Hội nghị, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) Vũ Tiến Lộc cho biết, cộng đồng DN coi Hội nghị với Thủ tướng là một “hội nghị Diên Hồng” trong phát triển DN.

Thủ tướng tiếp xúc đại biểu trước giờ khai mạc Hội nghị. Ảnh: Cao Thăng

* Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc: Hội nghị phải thực chất và tháo gỡ được vướng mắc của DN

Đó là chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc khi phát biểu khai mạc hội nghị trực tuyến gặp gỡ DN 2016. Thủ tướng Chính Phủ Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, DN là nhân tố, là động lực phát triển kinh tế đất nước. DN là người tiên phong góp phần tạo việc làm, tạo GDP, gia tăng xuất khẩu. Người tiên phong đó phải được lắng nghe, phải được tạo điều kiện để phát triển. Thấy được điều đó, Chính phủ đã ban hành hai bộ luật mới là Luật doanh nghiệp và Luật đầu tư nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho DN phát triển. Tuy nhiên, trên thực tế việc triển khai tại nhiều địa phương vẫn còn gây nhiều nhiều rào cản cho DN.

* Ông Vũ Tiến Lộc, Giám đốc Phòng Thương Mại Công nghiệp Việt Nam (VCCI): Rào cản kinh doanh thể hiện rõ thực trạng phát triển của DN hiện nay.

Thống kê từ VCCI, tính đến ngày 31-12-2015, cả nước có 513.000 DN còn hoạt động (chiếm 54,5%), 428.000 DN ngừng hoạt động hoặc giải thể vì nhiều lí do khác nhau (chiếm 45,5%). Điều đáng nói là khoảng một nửa số DN ngừng hoạt động hoặc giải thể trên diễn ra chỉ trong giai đoạn 3 năm gần đây và vẫn đang có xu hướng gia tăng. Chỉ tính trong năm 2015, có hơn 80.000 DN giải thể. Riêng quý I/2016 tiếp tục có gần 23.000 DN  ngừng hoạt động và giải thể, tăng gần 14% so với cùng kỳ năm trước.

Hiệu quả hoạt động của DN cũng cho thấy bức tranh không mấy lạc quan. Trong số các DN đang hoạt động ở thời điểm cuối năm 2015, 42% DN hoạt động có lãi, hơn một nửa (58%) DN thua lỗ hoặc hòa vốn. Con số 42% này, mặc dù được cải thiện so với mức 32% và 35% của những năm trước, nhưng việc chỉ có chưa đầy một nửa số DN kinh doanh có lãi trong một nền kinh tế là điều không bình thường.

Cơ cấu DN trong nền kinh tế cũng có những biểu hiện đáng lo ngại. DN Việt không những không lớn lên mà còn teo tóp đi. Cụ thể, tỷ lệ doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ rất cao chiếm tới trên 96%, còn nếu tính cả các hộ kinh doanh thì tỷ trọng còn cao hơn nhiều. Chỉ có chưa đầy 2% là doanh nghiệp lớn và 2% là doanh nghiệp cỡ vừa. Qui mô bình quân các doanh nghiệp xét theo tiêu chí lao động đã giảm đi trong những năm qua. Bình quân 1 doanh nghiệp Việt Nam năm 2015 chỉ có 29 lao động, giảm so với quy mô 49 lao động của năm 2007. Xét về cơ cấu ngành nghề, khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước tập trung nhiều vào các lĩnh vực kinh doanh thương mại dịch vụ, bất động sản, tài chính, ngân hàng… ít chú trọng đầu tư vào sản xuất. Chưa có nhiều các nhà chế tạo sản xuất và các nhà kinh doanh trong các lĩnh vực dịch vụ có giá trị gia tăng cao là doanh nghiệp tư nhân trong nước của Việt Nam. Cả nước mới chỉ có 1% số doanh nghiệp đầu tư kinh doanh trong nông nghiệp.

* Ông Huỳnh Văn Minh, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM: Lấy năm 2016 là năm DN hội nhập

Vừa qua, Hiệp hội DN TPHCM đã ghi nhận rất nhiều ý kiến từ DN và cũng đã tổng hợp báo cáo, kiến nghị đề xuất, hiến kế với Thủ tướng những vấn đề bức xúc của DN và bước đầu đã được Thủ tướng quan tâm chỉ đạo, kịp thời giải quyết những việc “nóng”.

Nhân dịp gặp gỡ hôm nay, chúng tôi kiến nghị Thủ tướng và Chính phủ đặc biệt quan tâm những bức xúc của cộng đồng doanh nghiệp đó là:

1. Tập trung quán triệt đầy đủ tinh thần, nội dung của Nghị quyết 09 ngày 9-12-2011 của Bộ Chính trị (Khóa XI) về việc xây dựng và phát triển đội ngũ doanh nhân trong thời ký Công nghiệp hóa - Hiện đại háo và hội nhập quốc tế. Vì vậy Đảng và Chính phủ cần quán triệt cho cả hệ thống chính trị để nhận thức lại vai trò, nhiệm vụ của doanh nhân trong thời kỳ hội nhập Quốc tế.

 

Đông đảo DN trông đợi quyết tâm cải cách của người đứng đầu Chính phủ. Ảnh Cao Thăng

2. Lấy năm 2016 và giai đoạn 2016-2020 là năm “Doanh nghiệp hội nhập”. Theo đó, tập trung xây dựng và phát triển DN, chú trọng DN – khởi nghiệp đưa tổng số gần 2 triệu DN / 90 triệu dân đến cuối năm 2020 (bình quân hiện nay chưa đến nửa triệu DN), tức chưa đạt 2%doanh nghiệp /dân số vào cuối năm 2020. Đây là giải pháp làm cho dân giàu nước mạnh, xóa đói giàm nghèo bền vững nhất. Cụ thể, nếu chúng ta phát triển được 100.000 DN, mỗi DN giải quyết được 10 lao động thì chúng ta giải quyết được 1 triệu người có việc làm. Cứ thế, chúng ta sẽ có đà tăng tiếp theo số lượng DN phát triển, người có việc làm tăng lên. Ngược lại, Nhà nước còn thu được nhiều khoản khác như: thuế, GDP, kim ngạch xuất - nhập khẩu...

Tập trung tháo gỡ cơ chế chính sách, cải cách thể thế kinh tế, cải cách hành chính thật mạnh mẽ tạo hành lang pháp lý thông thoáng, an toàn, hiệu quả nhất. Nếu cơ chế chính sách nước ta không tốt hơn các nước mà Việt Nam đã tham gia ký kết thì cũng đừng xấu hơn như thuế, hải quan thông quan, visa, về vốn - lãi suất và nhiều thủ tục hành chính khác... tạo điều kiện cạnh tranh của DN . Nhà nước có cạnh tranh vĩ mô, DN cạnh tranh vi mô thì mới thắng được.

Kiến nghị Quốc hội sớm ban hành luật hoạt động cho các tổ chức Hội và quan tâm hỗ trợ cho các tổ chức Hội, Hiệp hội đại diện của DN – doanh nhân hoạt động, làm cầu nối, là cách tay nối dài của Đảng, Chính phủ và DN. Vì vậy, Chính phủ và các Bộ, ngành, địa phương cần quan tâm xây dựng mái nhà chung cho DN, đó là các Hội, Hiệp hội Doanh nghiệp, Doanh nhân...

* Phòng thương mại công nghiệp (VCCI): Đề nghị Chính phủ ban hành Nghị quyết về chương trình hành động quốc gia phát triển DN

5 năm tới là một giai đoạn đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam - 5 năm triển khai thực hiện nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII - 5 năm bước vào giai đoạn hội nhập sâu rộng nhất. DN chính là lực lượng quyết định thành bại của đất nước trong hội nhập. Và nâng cao nội lực của doanh nghiệp là nhiệm vụ trọng tâm.

Tôi đề nghị, Chính phủ ban hành một nghị quyết về chương trình hành động quốc gia phát triển doanh nghiệp cho cả nhiệm kỳ, bảo đảm thực hiện được hai yêu cầu xuyên suốt là củng cố niềm tin, vực dậy tinh thần, phục hồi và phát triển doanh nghiệp. Muốn vậy phải tiếp tục đặt ưu tiên vào mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, xây dựng một môi trường kinh doanh thuận lợi và an toàn, giảm thiểu rủi ro cho DN, để không lặp lại những câu chuyện bi hài như quán cà phê “xin chào” mà đích thân Thủ tướng đã phải ra tay can thiệp.

Định hướng chính sách lớn của chương trình là cố gắng bảo toàn lực lượng DN có tiềm năng cạnh tranh hiện có, đồng thời khuyến khích thúc đẩy phát triển thêm nhiều DN mới, hướng tới mục tiêu đất nước ta có được 1,5 – 2 triệu DN hoạt động có hiệu quả vào năm 2020.

Về nhóm chính sách giảm thiểu rủi ro và chi phí, có thể khẳng định, hiện nay các DN Việt Nam đang phải chịu nhiều rủi ro và gánh nặng chi phí cả chính thức và không chính thức khá lớn. Trước tiên là các rủi ro và chi phí về hành chính đang ở mức cao so với các nước láng giềng. Để phục hồi và phát triển DN, cải cách thể chế, cải cách hành chính cần đóng vai trò là mũi đột phá dẫn đường để vừa bảo đảm an toàn, tạo thuận lợi và giảm chi phí cho DN.

Đề nghị Chính phủ xây dựng lộ trình cải cách thể chế và tăng cường kỷ luật thực thi cho cả nhiệm kỳ 5 năm với những mục tiêu, khung thời gian và quy trách nhiệm cụ thể cho từng thủ trưởng các bộ, ban ngành và địa phương theo mô hình nghị quyết 19 (với phạm vi mở rộng ra tất cả các lĩnh vực cải cách thể chế, với yêu cầu cao hơn và trong một số lĩnh vực có thể vượt qua chuẩn tiên tiến của ASEAN, vươn tới chuẩn của các nước TPP hay EV-FTA). Nghị quyết này nên được trình ra Quốc hội để tăng cường kỷ luật thực thi. Sự giám sát của Quốc hội, sẽ tạo áp lực giúp bảo đảm kỷ luật thực thi trong các cơ quan chính phủ và các cấp chính quyền, khép lại khoảng cách giữa lời nói và việc làm, giữa nghị quyết và cuộc sống. Cải cách thể chế phải hướng tới mục tiêu chất lượng thể chế của Việt Nam không thua kém các nước tiên tiến trên thế giới. Trước mắt, phải xếp vào nhóm 4 nước tiên tiến đứng đầu ASEAN như Nghị quyết 19 của Chính phủ và nghị quyết của Quốc hội đã quyết định.

Nhiều DN tin tưởng Hội nghị sẽ thực chất và tạo điền kiện cho DN Việt phát triển. Ảnh Cao Thăng

Kiên quyết loại bỏ những quy định, điều kiện và giấy phép kinh doanh không còn phù hợp đang cản trở quyền tự do kinh doanh của người dân, và đang làm tăng rủi ro và chi phí cho DN.

Trước mắt, với gần 6.000 điều kiện kinh doanh, trong đó có tới một nửa sẽ không còn căn cứ pháp lý để tồn tại sau ngày 1-7 tới, theo qui định của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư.

Về chi phí vốn, hiện nay, các DN Việt Nam đang phải vay ngân hàng với lãi suất cho vay bình quân khoảng 8,5%/năm, trong khi lạm phát chỉ ở mức 1,84% năm 2014 và 0,6% năm 2015. Như vậy, lãi suất thực mà DN đang phải chịu là 7 – 8%/năm, cao hơn nhiều so với các nước trong khu vực (Ví dụ như lãi suất thực của Philipines là 2,2%/năm, lãi suất thực của Malaysia là 2,1%/năm). Các DN trong nước đang phải gánh chịu các chi phí của cả các khoản nợ xấu của hệ thống ngân hàng cũng như nợ công của Chính phủ. Rõ ràng là nếu mức lãi suất thực hợp lý của người gửi tiền khoảng 2% và mức chênh lệch lãi suất huy động và cho vay hợp lý của hệ thống ngân hàng khoảng 2-3%, mặt bằng lãi suất hiện nay cần phải được giảm thêm 2% nữa mới về mức hợp lý. Vì thế, Chính phủ nên đặt mục tiêu cụ thể giảm lãi suất thực 1-2% trong năm tới cùng với việc giải quyết nợ xấu một cách thực chất.

Đề nghị Chính phủ đẩy mạnh cải cách và minh bạch hóa hệ thống thu – chi các khoản đóng góp liên quan đến lao động. Hệ thống hiện nay đang không hiệu quả, khi chi phí bảo hiểm xã hội mà DN Việt Nam phải chịu cao gấp đôi, gấp ba nhiều nước ASEAN trong khi đó người lao động lại không được hưởng tương xứng. Trước mắt, đề nghị giãn lộ trình tính đầy đủ bảo hiểm xã hội trên thu nhập thực tế của người lao động để khoan sức cho doanh nghiệp.

Nhóm chi phí khác cần được xem xét cắt giảm là thuế và phí. Mặc dù ngân sách hiện nay đang khó khăn, nhưng chủ yếu là do chi thường xuyên tăng mạnh chứ không phải do mức thu thuế thấp. Các khoản thuế, phí ở Việt Nam hiện đã chiếm tới 40,8% lợi nhuận của DN. Đây là mức huy động thuộc loại cao nhất trong khu vực. Bởi vậy, thời gian tới Chính phủ cần đẩy mạnh cải cách bộ máy hành chính để cắt giảm chi tiêu, tuyệt đối tránh tình trạng tận thu để bảo đảm tăng chi. Thay vào đó, một số chính sách miễn giảm, hoãn, giãn thuế hợp lý cho DN nên được tiếp tục để phục hồi và phát triển DN, nuôi dưỡng nguồn thu sau này. Cũng quan trọng không kém là phải ngăn chặn việc đặt ra các loại phí sai quy định tại nhiều địa phương hiện nay. Các khoản phí cầu đường, giao thông .v.v. cũng cần được quản lý chặt chẽ.

Tóm lại, để tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, bảo đảm bình đẳng cho các DN thuộc mọi thành phần kinh tế, một nội dung quan trọng của công tác cải cách hành chính, cải cách bộ máy của chính phủ là xóa bỏ chế độ chủ quản của các bộ ngành và chính quyền địa phương đối với các DN nhà nước. Việc xóa bỏ chế độ chủ quản sẽ bảo đảm giải phóng được DN nhà nước ra khỏi sự can thiệp sự vụ của các bộ ngành vào hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo điều kiện để DN nhà nước năng động hơn và sáng tạo hơn.

Mặt khác, tạo điều kiện mở đường cho một môi trường cạnh tranh bình đẳng hơn giữa các DN nhà nước với nhau và với khu vực tư nhân. Chủ trương này đã được đề ra từ gần 15 năm trước nhưng vẫn chưa được triển khai tốt.

* Hiệp hội DN Nhật Bản: Minh bạch hơn giữa các cơ quan chức năng

Việt Nam có thể hưởng lợi nhiều từ hiệp định thương mại mang lại, nâng cao năng lực cạnh tranh nếu nâng cao chương trình đào tạo kỹ thuật, đào tạo nhân lực kỹ thuật cao. Để làm  được vấn đề này, mỗi DN không tự thực hiện được mà nhất thiết phải có sự điều tiết từ phía nhà nước. Để phát triển ngành kỹ thuật cao, kỹ năng mềm thì Chính phủ nên đưa giáo trình đào tạo vào từ trung học phổ thông chứ không phải chỉ tập trung đại học và đào tạo nghề. Chính sách đào tạo năng lực chuyên nghiệp sớm áp dụng.

Nhiều DN Nhật Bản mong muốn đầu tư lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam. Ảnh Cao Thăng

Về lĩnh vực nông nghiệp: Việt Nam có nông sản đa dạng và sẽ tăng được giá trị gia tăng khi áp dụng công nghệ tiên tiến trong lĩnh vực này. Nhật Bản đã gặt hái những thành công trong lĩnh vực nông nghiệp. Hiện rất nhiều DN Nhật Bản sở hữu những kinh nghiệm chế biến, bảo quản, truy xuất nguồn gốc… sản phẩm nông nghiệp. Trong năm 2015, nhiều DN Nhật Bản đã đăng ký tại hiệp hội với mong muốn đầu tư lĩnh vực nông nghiệp tại Việt Nam. Hy vọng Chính phủ Việt Nam sẽ sớm hoàn thiện chính sách pháp lý cần thiết, chính sách ưu đãi đầu tư cho DN trong lĩnh vực này, tạo điều kiện thuận lợi cho DN Nhật Bản liên kết DN, nông dân Việt Nam áp dụng công nghệ hiện đại và quy trình sản xuất sản phẩm an toàn, có giá trị gia tăng cao trên thị trường. Từng bước xây dựng, hình thành DN có uy tín, tin cậy trên thị trường trong nước và thế giới.

Về nâng cao môi trường kinh doanh, Chính phủ cần phải điều chỉnh hệ thống pháp luật để nâng cao năng lực DN Việt Nam. Đơn cử Luật lao động, Luật đầu tư cần phải phù hợp hơn.

Về quy định nhập khẩu máy móc qua sử dụng cần phải thực thi nhịp nhàng, nhanh chóng, minh bạch hơn giữa các cơ quan chức năng. Cuối cùng hy vọng những kiến nghị trên của DN Nhật Bản sẽ sớm được Chính phủ Việt Nam xem xét và điều chỉnh để tạo điều kiện thuận lợi cho DN Nhật Bản đầu tư tại Việt Nam. Chính phủ Nhật Bản mong muốn được hợp tác với Chính phủ Việt Nam sửa đổi quy định để phù hợp với thông lệ quốc tế.

* Đại diện Doanh nghiệp dệt may: Nhiều thông tư ban hành siết doanh nghiệp đến nghẹt thở

DN dệt may Việt Nam đang đứng trước những thách thức rất lớn. Nhiều DN đã phải đóng cửa vì điều kiện cạnh tranh và môi trường kinh doanh hết sức khó khăn. Do đó, kiến nghị Chính phủ phải điều chỉnh lại quy hoạch phát triển ngành dệt may Việt Nam đến năm 2030 - 2040. Bởi quy hoach ngành đến năm 2020, toàn ngành xuất khẩu được 20 tỷ USD. Thế nhưng, chỉ cần đến năm 2015, toàn ngành đã xuất khẩu được 27 tỷ USD. Kiến nghị thứ 2 là Bộ Công thương và Bộ Kế hoạch và đầu tư xây dựng chiến lược quy hoạch ngành gắn với khu công nghiệp tập trung, gắn với vấn đề xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Đây được xem là quy hoạch then chốt quyết định sống còn, bền vững của DN ngành dệt may. Ngoài ra, liên quan đến vấn đề xử lý nước thải đảm bảo tiêu chuẩn môi trường còn rất nhiều bất cập và là rào cản lớn kìm hảm sự phát triển của DN ngành dệt may. Cụ thể, Bộ Tài nguyên và Môi trường đưa ra những quy định về tiêu chuẩn quá nặng nề với DN dệt may. Có những DN 400 công nhân, nguồn nước thải chủ yếu là sinh hoạt nhưng vẫn phải phải đầu tư nhà máy xử lý môi trường lên đến vài tỷ đồng giống như DN hoạt động trong lĩnh vực dệt. Như vậy là quá bất hợp lý

Trong bối cảnh kinh tế và mức độ cạnh tranh thị trường ngày càng cao như hiện nay, rất nhiều DN dệt may Việt Nam đang bị mất đối tác. Đơn cử, chỉ trong quý 1/2016 rất nhiều DN may đã bị mất đơn hàng do khách hàng đã chuyền đơn hàng đi Myanmar và Lào. Tại những nước này, DN may có những ưu đãi thuế rất lớn, giá nhân công rẻ. Trong khi đó, dù Việt Nam đã ký hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định thương mại Việt Nam - Châu Âu nhưng cho đến nay vẫn chưa có hiệu lực.  

Chưa hết, việc điều chỉnh mức lương tối thiểu vừa qua cũng đã gây những tác động rất lớn đến nội lực cạnh tranh của DN. Trong khi chúng ta tăng lương tối thiểu nhưng những nước lân cận thì lại điều chỉnh bảo hiểm xã hội DN theo hướng giảm. Đơn cử như tại Trung Quốc, mức bảo hiểm xã hội DN giảm từ 22% xuống 19% thì khó có cơ sở để DN có thể cạnh tranh.

Các chính sách liên quan đến vấn đề kiểm tra chuyên ngành và đặc biệt là trong ngành dệt may là việc kiểm tra chất Formadehyt gây lãng phí xã hội, gây tốn kém tiền bạc và thời gian của DN. Thông tư 37 do Bộ Công thương  ban hành được đánh giá là thắt chặt doanh nghiệp đến nghẹt thở. Mỗi 5m vải mẫu từ nước ngoài chuyển về vẫn phải đi kiểm định chuyên ngành. Chỉ tính riêng quý 1/2016, có đến 138 mẫu vải phải đi kiểm định.

Về vấn đề quy định thời gian làm việc, những quy định về giờ làm thêm là một trong những thách thức ngành dệt may. Các nước cạnh tranh trong khu vực thì không có quy định này. Bởi, những đơn hàng dệt may có mùa vụ. Do vậy, linh hoạt trong việc quy định giờ lao động.

Cuối cùng là chính sách kiễm tra giám sát với các DN của các cơ quan chức năng hiện quá nhiễu nhương. Trung bình mỗi doanh nghiệp phải tiếp báo cáo cho 3 - 4 đoàn kiểm tra/quý. DN đã kiến nghị rất nhiều lần nhưng không được cải thiện. Và nếu liên tục như thế thì doanh nghiệp rất ức chế. Chính phủ cần phải gom các đơn vị nên kiểm tra một lần. Còn lại để thời gian để doanh nghiệp hoạt động đúng với hoạt động kinh doanh của mình. 

Ký kết cam kết thuận lợi hoá hoạt động kinh doanh, đầu tư cho doanh nghiệp

Lễ ký kết cam kết thuận lợi hoá hoạt động kinh doanh, đầu tư và hoạt động cho doanh nghiệp giữa UBND TPHCM, UBND TP Hà Nội và Phòng thương mại công nghiệp Việt Nam VCCI đã diễn ra.

Về phía UBND TPHCM là chủ tịch Nguyễn Thành Phong, đại diện UBND TP Hà Nội là Chủ tịch Nguyễn Đức Chung, và đại diện VCCI là Chủ tịch Vũ Tiến Lộc đã cùng ký cam kết. Theo đó, nội dung cam kết giữa hai thành phố đối với đại diện VCCI nói riêng và cộng đồng doanh nghiệp trên cả nước nói chung tập trung cụ thể vào những chỉ tiêu có tính chất định lượng tháo gỡ rào cản cho doanh nghiệp. Với TP Hà Nội sẽ cam kết phấn đấu đi đầu cả nước về thực hiện chính quyền địện tử; các hồ sơ đăng ký doanh nghiệp qua mạng giải quyết trong vòng 2 ngày, giảm 1 ngày so với quy định và 100% hồ sơ đăng ký qua mạng giải quyết đúng thời hạn; duy trì quy định doanh nghiệp thực hiện kê khai thuế điện tử 95%; doanh nghiệp nộp thuế điện tử 90%; cắt giảm 30% thời gian giải quyết thủ tục hành chính về đầu tư doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài so với quy định; giảm 20% thủ tục hành chính trong lĩnh vực, giải phóng mặt bằng, thu hồi đất và giảm 30 - 50% trong lĩnh vực quy hoạch.

Với TPHCM cũng cam kết, tích cực xây dựng chính quyền điện tử. Với thủ tục thuế, phấn đấu 98% doanh nghiệp làm thủ tục kê khai nộp thuế điện tử và 90% doanh nghiệp sẽ thực hiện nộp thuế điện tử. Về thủ tục hải quan, giảm 50% so với quy định. Riêng thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư cũng sẽ giảm 30%.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh, việc ký kết giữa TP Hà Nội, HCM và VCCI là mang tính biểu trưng tại hội nghị. Thủ tướng chỉ đạo các tỉnh thành phố còn lại cũng phải thực hiện việc ký cam kết hỗ trợ tạo điều kiện thuận lợi nhất để doanh nghiệp hoạt động và phát triển như TPHCM và Hà Nội đã làm. Tuyệt đối không được ban hành những quy định có tính chất gây khó cho doanh nghiệp. Nhất định phải giảm thủ tục phiền hà, giảm thời gian, tiết kiệm tối đa chi phí cho doanh nghiệp. Những nội dung cam kết và thực hiện phải có định tính và định lượng. Chính phủ sẽ thực hiện kiểm tra việc ký kết cũng như những hiệu quả thực tế trong quá trình cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.

* Ông Lê Hoàng Châu, Chủ tịch Hiệp hội bất động sản TPHCM: Tiền sử dụng đất - Gánh nặng của doanh nghiệp và hộ gia đình

Đối với DN bất động sản, hiện tiền sử dụng đất vẫn là “ẩn số”. Nhà đầu tư không thể tiên lượng được trước khi quyết định đầu tư dự án. Chưa hết, nhà đầu tư gần như phải mua lại quyền sử dụng đất đến hai lần. Một nguyên nhân khác làm đẻ ra cơ chế "xin - cho” là nhà đầu tư phải trải qua quá trình thẩm định, xét duyệt rất nhiêu khê. Điều này dẫn đến "tình thế" chủ đầu tư phải "thỏa thuận" với đơn vị tư vấn mới có kết quả phù hợp. Cuối cùng người tiêu dùng phải gánh chịu khi mua nhà.

Hiệp hội kiến nghị Chính phủ xem xét sửa đổi cách tính tiền sử dụng đất như là một sắc thuế khi chuyển mục đích sử dụng đất thành đất ở, như đề xuất của UBND TPHCM tại Báo cáo số 196/BC-UBND ngày 8-11-2013 đã trình Chính phủ, như sau: “Về lâu dài đề nghị nghiên cứu bỏ hẳn khái niệm “tiền sử dụng đất” mà thay thế bằng sắc thuế sử dụng đất ở với thuế suất nhất định, đề xuất khoảng 10% hoặc 15% bảng giá đất. Như vậy, vừa minh bạch, vừa dễ tính toán và loại trừ được cơ chế xin – cho. Hạn chế việc thu tiền sử dụng đất lần đầu quá lớn mà duy trì nguồn thu bền vững, lâu dài cho Nhà nước”. Trong trường hợp đề xuất trên đây chưa được chấp thuận, Hiệp hội kiến nghị cho chủ đầu tư được khấu trừ chi phí thực tế giải phóng mặt bằng vào tiền sử dụng đất.

Nhiều DN nước ngoài cũng tham gia hiến kế cho Chính phủ. Ảnh Cao Thăng

Đối với hộ gia đình, cá nhân tại TPHCM: Áp dụng Luật Đất đai 2013 vào thực tế, có nhiều trường hợp hộ gia đình, cá nhân tại TPHCM khi xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở trong các vị trí hẻm sâu đã phải nộp tiền sử dụng đất cao hơn các trường hợp đã được cấp sổ đỏ từ năm 2014 trở về trước, mà nguyên nhân là do quy định mức giá đất thấp nhất của địa phương ban hành không được thấp hơn mức giá đất tối thiểu theo khung giá đất của Chính phủ. Hiệp hội kiến nghị Chính phủ xem xét giao quyền cho Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định xây dựng bảng giá đất cho phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương thì hợp lý hơn.

Ngoài ra, từ ngày Luật Nhà ở 2014 có hiệu lực cho đến nay thì cũng là khoảng thời gian mà nhiều DN gặp trở ngại rất lớn do Sở Xây dựng không thể trình UBND TPHCM để xét duyệt hồ sơ lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở, mà chỉ vì khoản 4 điều 23 Luật Nhà ở và khoản 2 điều 18 Nghị định 99/2015/NĐ-CP đã quy định là DN khi đã nhận chuyển quyền sử dụng "đất ở" thì mới được lựa chọn làm chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại. Quy định này vừa không phù hợp với thực tế vừa xung đột với Luật Đất đai 2013 vì tại khoản (1.b) điều 169 của Luật Đất đai đã quy định tổ chức kinh tế được nhận chuyển quyền sử dụng "đất" bao gồm cả đất ở, đất nông nghiệp...

Bất động sản là một trong những ngành kinh tế nền tảng của đất nước, có liên quan đến hầu hết các ngành kinh tế khác, cung ứng nhiều sản phẩm, đặc biệt là nhà ở và góp phần tạo ra nhiều việc làm cho người lao động. Theo quy định hiện hành, hầu hết các ngành nghề đều được Nhà nước cho phép hạch toán bù trừ trong quá trình kinh doanh để xác định lợi nhuận và nghĩa vụ nộp thuế thu nhập DN. Nhưng cơ chế này lại không được áp dụng đầy đủ cho hoạt động kinh doanh bất động sản vì theo quy định thì kinh doanh bất động sản phải được hạch toán riêng. DN được lấy lợi nhuận trong hoạt động ở các lĩnh vực khác để bù trừ cho kinh doanh bất động sản bị thua lỗ nhưng không được lấy lợi nhuận từ kinh doanh bất động sản để bù trừ cho các hoạt động khác bị thua lỗ. Đây là quy định bất hợp lý và không còn phù hợp với tinh thần đổi mới khi xây dựng Luật Đầu tư 2014 đã quy định nhà đầu tư được quyền thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Hơn nữa, trong cùng một DN thì các hoạt động đầu tư, kinh doanh đều được đầu tư từ nguồn vốn của DN, có vai trò hỗ trợ lẫn nhau và hiệu quả sản xuất, kinh doanh chính là kết quả tổng hợp của các hoạt động trên.

Do vậy, cần bãi bỏ quy định lỗi thời này và cho phép được bù trừ lỗ của các hoạt động sản xuất, kinh doanh khác với lợi nhuận từ kinh doanh bất động sản để phù hợp với các điều ước quốc tế mà nước ta đã ký kết.

* Bà Mai Kiều Liên, Tổng giám đốc Công ty Cổ phần sữa Việt Nam: Cần coi doanh nghiệp là đối tượng được phục vụ thay vì bị quản lý

Cần thống nhất công tác kiểm tra hồ sơ của doanh nghiệp, hạn chế cùng một hồ sơ mà có đến 2 cơ quan chức năng cùng kiểm tra để hạn chế chi phí và thời gian cho doanh nghiệp.

Trong lĩnh vực chăn nuôi, Vinamilk thu mua 60% lượng sữa của bà con nông dân. Tuy nhiên, trong thời gian qua, có nhiều vấn đề vướng mắc khiến cho hoạt động của công ty cũng như của người nông dân gặp nhiều khó khăn.

Cụ thể, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn ban hành quy định bò bê nhập khẩu của Vinamilk là con giống, tạo cơ sở doanh nghiệp nhanh chóng nhập khẩu con giống khi có yêu cầu.

 Thứ hai là đề nghị Bộ Tài nguyên và Môi trường xem xét lại những quy định đối với yêu cầu xử lý chất thải trong chăn nuôi. Chất thải chăn nuôi là nguồn thải hữu cơ, khả năng tái sử sụng, tái chế lại cao trong khi đó, bộ quy định phải xử lý, đặc biệt là xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn môi trường loại B1. Quy định này là rất khó thực hiện cho công ty cũng như bà con nông dân vì rất khó, tốn kém..

 Về cơ chế chính sách, những quy định cơ chế, thông tư, nghị định nào đã được doanh nghiệp thực hiện tốt thì không nên thay đổi. Bởi khi thay đổi sẽ gây tốn kém, phiền hà và mất thời gian cho doanh nghiệp. Đơn cử như quy chuẩn sữa nước, hiện đang rất tốt cho hoạt động sản xuất và phát triển doanh nghiệp trong 5 năm nay. Sản phẩm của doanh nghiệp không ngừng mở rộng thị trường không chỉ trong nước mà còn gia tăng sản lượng xuất khẩu. Chỉ tính riêng xuất khẩu mặt hàng sữa nước của Vinamilk năm 2015 vửa rồi là 240 triệu USD. Do đó, không nên thay đổi để tránh rủi ro cho doanh nghiệp.

 Cần thiết, Chính phủ nên coi doanh nghiệp là đối tượng được phục vụ chứ không phải đối tượng bị quản lý. Nếu có môi trường kinh doanh tốt thì doanh nghiệp Việt Nam cũng phát triển không kém doanh nghiệp ngoại.

* Thủ tướng Chính Phủ Nguyễn Xuân Phúc: Lấy người dân và DN làm đối tượng phục vụ

Kết luận tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn chân thành cảm ơn các cơ quan tư pháp, các cơ quan Quốc hội,  đặc biệt là hàng chục ngàn DN trong cả nước đã có nhiều đóng góp cho công cuộc phát triển đất nước.

Đảng, Nhà nước đã tập trung làm thể chế, chính sách, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh, tạo điều kiện hơn trước rất nhiều để DN phát triển. Tuy nhiên, bước vào giai đoạn phát triển mới, với tư cách một Đảng lãnh đạo, một Nhà nước pháp quyền, do dân, vì dân, chúng ta cần nhìn nhận thực chất bức tranh hiện tại môi trường đầu tư kinh doanh hiện tại vẫn chưa thực sự tạo thuận lợi cho DN. Những tồn tại được xem như rào cản phát triển DN cũng đã được Thủ tướng chỉ rõ: việc ban hành các luật và văn bản, thông tư hướng dẫn còn quá chậm để DN phải chờ đợi; có những trường hợp văn bản hướng dẫn không rõ ràng, tính tương thích không cao hoặc còn cảm tính, thiếu định lượng dẫn đến có nhiều cách hiểu khác nhau về cùng một vấn đề; trình độ làm luật và người thông qua luật còn yếu, không đồng nhất; chưa có cơ chế hiệu quả khuyến khích DN đột phá, thông qua áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tạo ra sản phẩm có thương hiệu lớn; sức cạnh tranh DN giảm do thể chế, thủ tục phiền hà, góp phần chi phí tăng, giảm nội lực DN; công tác cổ phần hóa đã chỉ đạo quyết liệt nhưng còn nhiều vướng mắc về cơ chế; thực trạng DN ngày càng nhỏ đi, thiếu những dn có quy mô vừa; hiệu quả kinh doanh còn thấp, khả năng kết nối của dn vừa và nhỏ với những DN lớn và DN có vốn đầu tư nước ngoài kém, chưa tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm toàn cầu; tình trạng phí chồng phí, thanh tra, kiểm tra trên 30 loại chồng chéo; một bộ phận cán bộ, đảng viên tiêu cực, gây phiền hà…

Để thực hiện những giải pháp nhằm cải thiện những điểm tồn tại trên, Thủ tướng nhấn mạnh, Nhà nước sẽ bảo vệ quyền lợi chính đáng, bảo đảm quyền kinh doanh, tài sản của DN theo quy định của pháp luật. DN được hoạt động kinh doanh tất cả các loại hình, lĩnh vực mà pháp luật không cấm.

Tất cả các DN không phân biệt quy mô, loại hình (ngoại trừ một số DN an ninh, quốc phòng, bình ổn giá), thành phần kinh tế, quy mô đều bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực như vốn, tài nguyên, đất đai, thị trường và cơ hội kinh doanh. Đồng thời, Nhà nước bảo đảm sự ổn định lâu dài của chính sách, để đảm bảo tính tiên lượng cho DN, tạo điều kiện củng cố niềm tin cho DN yên tâm bỏ vốn, không hồi tố chính sách. Đặc biệt, Chính phủ sẽ bảo đảm kinh tế vĩ mô, môi trường hòa bình, thuận lợi cho DN phát triển. Các cơ quan quản lý nhà nước khi ban hành chính sách phải quy định rõ ràng. Người đứng đầu cơ quan phải chịu trách nhiệm đến cùng quyết định của mình. Các quy định về điều kiện phải minh bạch. Ưu tiên cho người dân và DN, theo tinh thần Nhà nước kiến tạo, cung cấp dịch vụ cho người dân và DN, lấy người dân và DN làm đối tượng phục vụ.

Thủ tướng nêu rõ, 96% DN nước ta là DN vừa và nhỏ có vai trò quan trọng trong tạo việc làm, tăng thu nhập của xã hội, khơi nguồn đổi mới, sáng tạo trong kinh doanh nên cần có chính sách riêng để tạo điều kiện phát triển hội nhập. Đảng, Nhà nước “coi doanh nghiệp tư nhân là động lực phát triển kinh tế”. Bên cạnh đó, Chính phủ sẽ ngăn chặn việc hình sự hóa các quan hệ kinh tế nhằm tạo niềm tin cho nhà đầu tư sản xuất kinh doanh. Đối với những DN hoạt động công ích, hoạt động có tính rủi ro lớn, làm nhiệm vụ an ninh, quốc phòng, Nhà nước có cơ chế quản lý phù hợp. Nhà nước sẽ giảm dần, tiến tới loại bỏ các loại giấy phép con, phí, phụ phí bất hợp lý.
 
Chiều nay, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc sẽ tiếp tục làm việc với các bộ ngành, địa phương để bàn cách xử lý, giải quyết những kiến nghị của DN chưa được trả lời tại Hội nghị. Sau Hội nghị, Chính phủ sẽ ban hành Nghị quyết chuyên đề “Doanh nghiệp Việt Nam - Động lực phát triển kinh tế của đất nước”.

  Ái Vân - Thúy Hải 

Tin cùng chuyên mục