Tôi thật sự rất lo khi bắt tay vào thực hiện tập 4 là tập mà tôi viết kịch bản và làm đạo diễn, tập phim có tên “Bác Hồ trong trái tim miền Nam”.
Đây là đề tài thoạt nghe cứ thấy nó không mới, cũng có nhiều người đã làm phim rồi. Nhưng cho đến nay, sau 40 năm Bác Hồ mất, việc nghiên cứu về đề tài này chưa nhiều. Và theo tôi, có nói nhiều, làm nhiều phim về đề tài này bao nhiêu chắc cũng không đủ.
Tôi là người miền Nam, lại là lớp sinh sau, có một điều thiệt thòi là chưa biết mặt Bác Hồ. Chỉ nghe những câu chuyện kể, đọc sách, xem phim mà biết về Bác. Ba tôi, là hiệu trưởng Trường học sinh miền Nam, kể về những lần Bác đến thăm trường và những lời dặn dò của Bác cho cán bộ, giáo viên, nhân viên và học sinh của trường. Má tôi thì nói rằng Bác là một người vĩ đại mà kẻ thù cũng phải kính trọng - dù bà cũng chưa hề biết mặt Bác Hồ.
Đoàn làm phim tại Côn Đảo.
Và khi đi làm phim, tôi mới thấy mình đã chọn đúng. Đối với thế hệ trẻ sau này, việc biết về Bác Hồ không nhiều lắm, nhưng với các thế hệ lứa tuổi lớn hơn - từ trên 50 tuổi - thì rất nhiều câu chuyện, rất nhiều cảm xúc về Bác Hồ và nỗi mong ước được gặp Bác Hồ, cũng như sự tiếc thương vô hạn khi Bác mất. Tất cả những nhân vật mà chúng tôi gặp, nói chuyện, phỏng vấn… những cảm xúc về Bác vẫn tràn đầy, cứ như không phải đã trải qua 40 năm.
Tôi đã nghĩ, không biết làm sao mình có thể đưa hết những câu chuyện, những sự kiện, những nhân vật… vào phim vì chuyện nào cũng hay, cũng xúc động.
Gặp gỡ các anh, chị Phạm Chánh Trực, Nguyễn Thị Nghĩa, Trương Mỹ Lệ, Từ Thanh Mỹ, Nguyễn Thị Châu, Phan Thị Quyên, kiến trúc sư Nguyễn Hữu Thái, linh mục Phan Khắc Từ …; nghe những câu chuyện mà thả mình đồng cảm với những cảm xúc của các anh chị, để sống lại thời điểm những ngày đầu tháng 9 của năm 1969.
Đi cùng những nhân vật của mình trở lại những nơi đã từng giam giữ cán bộ, chiến sĩ ta ở Phú Quốc, Côn Đảo: anh Nguyễn Minh Hừng - tử tù Côn Đảo, chị Trương Mỹ Hoa, chị Võ Thị Thắng, chị Huỳnh Ngọc Thanh, tù chính trị Côn Đảo, chị Trần Hồng Thắm tù binh ở Quy Nhơn, anh Phạm Bá Lữ tù binh Phú Quốc… để thấu hiểu cho hết những câu chuyện kể về những ngày nghe tin Bác mất, trong tù tổ chức lễ truy điệu, để tang Bác, học tập Di chúc của Bác.
Ngày Bác mất, tạp chí Đất Nước ở Sài Gòn do nhóm nhà báo - nhà thơ Nguyễn Quốc Thái, Nguyễn Văn Trung ra một số đặc biệt, từ trang đầu đến trang cuối đều nói về Bác Hồ.
Chị Võ Thị Thắng kể với chúng tôi, ngày được trao trả vào năm 1974 tại Lộc Ninh, nhìn thấy hình Bác Hồ cùng với cờ Mặt trận, những băng rôn khẩu hiệu, các chị đã khóc vì biết là sự thật, là mình được trao trả về với cách mạng, chớ không phải là mưu thủ tiêu của kẻ thù.
Anh Nguyễn Minh Hừng, tức Út Đường, người tử tù Côn Đảo, giờ là Chủ tịch Hội khuyến học của tỉnh An Giang, là một trong ít người đầu tiên được phổ biến về bản Di chúc của Bác, kể lại: “Anh em đã không quản hy sinh, đưa bản Di chúc vào tận hầm đá tử tù, nhiệm vụ của tôi là phải truyền bản Di chúc đó trong toàn bộ khu hầm đá”. Anh đã dùng tay, gõ tín hiệu trong vòng một tuần lễ mới hết bản Di chúc cho tất cả bạn tù trong khu tử tù của anh.
Chị Trương Mỹ Hoa thì nhớ lại những ngày làm Phó Chủ tịch nước, chị hay hẹn với các chị ở miền Nam ra công tác, chiều chiều vào thăm Phủ Chủ tịch, tìm lại những nơi mà nhà thơ Tố Hữu đã viết trong thơ của mình, để hồi tưởng lại ngày xưa Bác Hồ sống và làm việc ra sao…
Đi một vòng các tỉnh Nam bộ từ Cà Mau trở lên, tôi thấy hầu như tỉnh nào cũng có đền thờ Bác Hồ. Riêng Cà Mau đã có 14 ngôi đền như vậy.
Chị Sáu Tiếm ở Trà Vinh kể về những ngày xây dựng và bảo vệ đền thờ ở xã Long Đức, thị xã Trà Vinh. Ngôi đền khánh thành, giặc càn quét, đốt phá. Trước khi đốt đền, chúng đem ảnh Bác về tỉnh lỵ. Đồng bào Kinh và Khmer kéo về tỉnh lỵ đấu tranh đòi lại bức ảnh Bác Hồ. Có em nhỏ đi câu cá, dành dụm tiền ủng hộ ban tổ chức xây đền. Giặc đốt phá, đồng bào, chiến sĩ lại xây lại…
Ở Nam bộ, người dân còn có tập quán làm giỗ Bác. Và tập quán đó đã được duy trì bốn mươi năm nay, từ đời mẹ đến đời con, đời ông đến đời cháu. Từ đền thờ Bác Hồ ở tỉnh, ban quản lý tổ chức giỗ Bác, rồi đến các huyện, xã, ấp… Nét độc đáo là mọi gia đình đều nấu một món ăn, đem cúng Bác và ăn với nhau. Đoàn kết, vui vầy mà tiết kiệm.
Nhiều người vẫn nhớ ngày những chuyến tàu đưa cán bộ, chiến sĩ miền Nam tập kết ra miền Bắc, có má Lê Thị Sảnh ở Thới Bình - Cà Mau gởi ra tặng Bác Hồ cây vú sữa. Cây vú sữa miền Nam gắn bó với Bác, Bác chăm sóc cây vú sữa miền Nam như Bác đang chăm sóc cho cả miền Nam, phần nào làm cho Bác khuây khỏa nỗi nhớ miền Nam.
Nhưng không biết có nhiều người biết đoạn tiếp theo của câu chuyện về cây vú sữa miền Nam không? Ngày 19-5-1995, cây vú sữa con được đưa từ Hà Nội trở về quê hương Cà Mau.
Vì nỗi mong ước được gặp Bác Hồ nên hình ảnh Bác Hồ đã trở thành tài sản, hành trang cho người miền Nam. Bốn mươi năm, miền Nam vẫn trọn vẹn một tấm tình với Bác.
Cũng chính vì sự đồng cảm đó mà trong quá trình làm phim đi đến đâu chúng tôi cũng nhận được sự giúp đỡ, hỗ trợ rất lớn. Nhiều người còn bỏ thời gian cùng lặn lội đi tìm nhân vật, sự kiện, dẫn đường cho đoàn phim; chăm sóc sức khỏe cho cả đoàn. Tôi cũng muốn gởi lời cảm ơn mọi sự giúp đỡ để chúng tôi hoàn thành phim.
Điều tôi muốn nói sau khi thực hiện xong bộ phim, đó là lời xin lỗi vì đã không đưa hết vào phim những nhân vật mà tôi đã gặp gỡ, đã phỏng vấn, bởi lẽ độ dài của bộ phim chỉ có bao nhiêu đó thôi.
Còn rất nhiều những con người với những câu chuyện hay, những tấm gương đẹp mà tôi chưa đưa được vào phim. Hãy coi như tất cả những nhân vật trên phim đã đại diện cho nhân dân miền Nam: dù không có mặt trong phim nhưng hãy coi như đã có.
Dương Cẩm Thúy