Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa: Xây hạ tầng, mở hành lang pháp lý

Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa đang mở ra nhiều cơ chế mới để đưa sáng tạo, tài sản trí tuệ, hạ tầng và thị trường vào cùng một chuỗi giá trị. Với TPHCM (nơi tập trung đông doanh nghiệp, lực lượng sáng tạo và thị trường tiêu dùng văn hóa lớn), một hành lang pháp lý đủ thông thoáng để mô hình mới được thử nghiệm, tài sản sáng tạo được xác lập, định giá và đưa vào thị trường là một yêu cầu thiết yếu.

Nhà Triển lãm Nghệ thuật Đương đại (số 158, đường Đồng Khởi, phường Sài Gòn, TPHCM) góp phần lan tỏa và đưa các tác phẩm nghệ thuật sáng tạo đến gần với công chúng. ẢNH: DŨNG PHƯƠNG
Nhà Triển lãm Nghệ thuật Đương đại (số 158, đường Đồng Khởi, phường Sài Gòn, TPHCM) góp phần lan tỏa và đưa các tác phẩm nghệ thuật sáng tạo đến gần với công chúng. ẢNH: DŨNG PHƯƠNG

Mở không gian, giảm rào cản

Điểm đáng chú ý của Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát dành cho những sản phẩm, mô hình kinh doanh, giải pháp công nghệ mới trong công nghiệp văn hóa.

Cùng với đó, hoạt động tại tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo văn hóa được định hướng chuyển từ tiền kiểm từng sự kiện sang tiền kiểm theo chu kỳ. Tổ chức, cá nhân có thể hoạt động theo quy chế vận hành của khu, không phải thực hiện thủ tục hành chính riêng cho từng hoạt động, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đây là thay đổi có ý nghĩa bước ngoặt đối với TPHCM, nơi các mô hình kết hợp nghệ thuật, công nghệ, giải trí, du lịch và kinh tế đêm đang ngày càng đa dạng. Nếu mỗi hoạt động mới đều phải chờ quy trình cấp phép riêng lẻ thì không gian sáng tạo khó vận hành như một hệ sinh thái liên tục. Ngược lại, một cơ chế quản lý theo chu kỳ có thể giúp doanh nghiệp chủ động xây dựng chương trình, đồng thời cơ quan quản lý chuyển trọng tâm sang kiểm soát tiêu chuẩn, an toàn và trách nhiệm của chủ thể vận hành.

Dự thảo cũng xác định hạ tầng công nghiệp văn hóa gồm công trình, tổ hợp, cụm, khu công nghiệp sáng tạo, không gian sáng tạo và hạ tầng văn hóa số; khuyến khích khu vực tư nhân, cộng đồng và hợp tác công - tư tham gia đầu tư, quản lý, vận hành, khai thác. Thực tiễn tại TPHCM cho thấy hướng tiếp cận này là có cơ sở.

Việc tổ chức lại các thiết chế cơ sở theo hướng đa chức năng đang tạo ra những không gian có thể đồng thời phục vụ đa dạng, từ sự kiện, lớp năng khiếu, sinh hoạt cộng đồng đến thể thao, giải trí và sáng tạo. Đây là nền tảng để thiết chế văn hóa chuyển từ nơi “tổ chức hoạt động” sang nơi cung ứng dịch vụ và hình thành cộng đồng sáng tạo.

TS Vũ Ngọc Côn, chuyên gia cao cấp của Trường Đại học Văn hóa TPHCM, nguyên Giám đốc phụ trách các công trình hạ tầng kỹ thuật của TP New York (Mỹ), cho rằng, có thể nghiên cứu mô hình Nhà nước giữ quyền sở hữu tài sản công, đầu tư hạ tầng nền tảng rồi cho doanh nghiệp hoặc tổ chức có năng lực thuê, vận hành lâu dài. Những nhà máy, kho bãi, công trình sử dụng chưa hiệu quả có thể được chuyển đổi thành không gian sáng tạo, nhưng cần giữ lại giá trị kiến trúc và ký ức địa phương.

“Tuy nhiên, chính sách mặt bằng cũng cần tính đến khả năng tiếp cận của nghệ sĩ, nhóm sáng tạo và doanh nghiệp nhỏ. Không gian sáng tạo nếu chỉ dành cho chủ thể có tiềm lực tài chính thì sẽ rất khó tạo nên một hệ sinh thái đa dạng”, TS Vũ Ngọc Côn nêu ý kiến.

Khi IP bước vào thị trường vốn

Nếu hạ tầng là điều kiện để sáng tạo phát triển thì tài sản trí tuệ là nguồn lực để sáng tạo tiếp tục sinh ra giá trị. Dự thảo quy định IP (Intellectual Property - tài sản trí tuệ) trong công nghiệp văn hóa được sử dụng để góp vốn, làm tài sản bảo đảm trong quan hệ tín dụng; tổ chức tín dụng có thể sử dụng kết quả định giá của tổ chức thẩm định giá làm căn cứ xác định giá trị tài sản bảo đảm. Thông tin về biện pháp bảo đảm cũng được kết nối với cơ sở dữ liệu và cập nhật vào hồ sơ tài sản trí tuệ.

CN3b.jpg
Bảo tàng TPHCM (số 65 đường Lý Tự Trọng, phường Sài Gòn) thử nghiệm mô hình mở cửa về đêm, một bước đi đáng ghi nhận để xây dựng lộ trình đưa thiết chế bảo tàng tham gia bài bản vào chuỗi giá trị công nghiệp văn hóa. ẢNH: BẢO TÀNG TPHCM CUNG CẤP

Đại diện Tập đoàn YeaH1 cho biết, nhu cầu dùng IP để góp vốn, làm tài sản đảm bảo đã xuất hiện từ lâu trong đời sống sáng tạo trong nước. Điển hình như các chương trình Anh trai vượt ngàn chông gai, Chị đẹp đạp gió rẽ sóng, Tập đoàn YeaH1 đã phát triển thành những IP đa tầng, từ chương trình gốc đến phim tài liệu điện ảnh, bản quyền âm nhạc và sản phẩm ăn theo. Tuy nhiên, do chưa có quy định nên các IP này chưa thể được dùng làm tài sản bảo đảm để vay vốn ưu đãi tái đầu tư.

Tại TPHCM, các doanh nghiệp điện ảnh, âm nhạc, quảng cáo, truyền thông, thiết kế và giải trí đều sở hữu lượng lớn IP. Nếu những tài sản này có thể xác lập, định giá và giao dịch minh bạch, chúng sẽ trở thành nguồn lực cho chu kỳ đầu tư tiếp theo.

Bà Bùi Việt Hà, Giám đốc Đối ngoại Tập đoàn YeaH1, đề xuất xây dựng khung tỷ lệ cho vay trên giá trị định giá tài sản trí tuệ và Quỹ Bảo lãnh Tín dụng Tài sản trí tuệ để chia sẻ rủi ro với tổ chức tín dụng. Theo bà Bùi Việt Hà, đây là cách mở thêm kênh huy động vốn, giải phóng nguồn vốn đang nằm trong tài sản vô hình.

Nhưng để một IP trở thành tài sản có thể giao dịch và bảo đảm tín dụng, trước hết phải trả lời được câu hỏi: ai thực sự có quyền với IP? Dự thảo đã quy định sàn giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa thực hiện niêm yết, môi giới, chuyển giao, cấp phép, đấu giá, mua bán và các hoạt động hỗ trợ giao dịch. Tổ chức vận hành sàn phải xác thực thông tin, lưu trữ dữ liệu, phát hiện và ngăn chặn gian lận, giả mạo, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ.

Luật sư Võ Trung Tín, Văn phòng Luật sư Phan Law Vietnam (TPHCM), cho rằng, yêu cầu trên không nên dừng ở việc xác minh người chào bán mà phải xác minh chuỗi quyền của tài sản: chủ thể quyền, tài liệu chuyển nhượng và tình trạng pháp lý; nếu không, sàn giao dịch quyền sở hữu trí tuệ và sản phẩm công nghiệp văn hóa có thể trở thành nơi ghi nhận một giao dịch mà quyền sở hữu phía sau chưa được làm rõ.

Theo luật sư Võ Trung Tín, quan hệ giữa Luật Phát triển công nghiệp văn hóa và Luật Sở hữu trí tuệ cần được xác định chặt chẽ. Việc xác lập nội dung, giới hạn và ngoại lệ của quyền sở hữu trí tuệ phải tuân thủ pháp luật sở hữu trí tuệ và các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đây là “van an toàn” để các thiết chế mới không tạo ra xung đột với hệ thống pháp luật hiện hành.

Một vấn đề mới khác là AI (trí tuệ nhân tạo). Luật sư Võ Trung Tín đề nghị quyền từ chối sử dụng tác phẩm làm dữ liệu huấn luyện AI cho mục đích thương mại phải được thể hiện bằng phương thức máy đọc, được gắn với mã định danh tài sản trí tuệ; đồng thời tổ chức huấn luyện AI phải có biện pháp kỹ thuật nhận diện và tôn trọng quyền từ chối, công bố bản tóm tắt đủ chi tiết về nguồn dữ liệu đã sử dụng.

Đây là vấn đề có ý nghĩa trực tiếp với TPHCM, nơi thị trường sản xuất nội dung số đang phát triển rất nhanh. Khi AI tham gia ngày càng sâu vào sáng tạo, nếu quyền được xác lập nhưng không có công cụ kỹ thuật để nhận diện và thực thi, khoảng cách giữa “có quyền” và “bảo vệ được quyền” sẽ rất lớn.

Ở đầu ra của chuỗi giá trị, ông Võ Anh Tài, Phó Tổng giám đốc Saigontourist Group, cho rằng, du lịch cần được xem là “đầu ra thị trường” quan trọng của di sản, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn, thủ công mỹ nghệ, thiết kế, điện ảnh và lễ hội; từ đó kết nối tài nguyên văn hóa với sản phẩm, trải nghiệm, lưu trú, lữ hành, MICE và tiêu dùng.

Với TPHCM, điều này cho thấy công nghiệp văn hóa không thể phát triển theo từng lĩnh vực tách rời. Một IP cần đi từ sáng tạo đến bảo hộ, định giá, vốn hóa và phân phối; một giá trị di sản cần được chuyển hóa thành sản phẩm, trải nghiệm; còn doanh nghiệp cần có khả năng tái đầu tư vào sáng tạo. Khi những mắt xích đó được kết nối, công nghiệp văn hóa mới có thể chuyển từ tiềm năng thành một lĩnh vực kinh tế thực chất, đóng góp vào tăng trưởng nhưng đồng thời bảo đảm giá trị văn hóa được gìn giữ và phát huy.

Công nghiệp văn hóa vừa đáp ứng yêu cầu phát triển lĩnh vực văn hóa, vừa có thể trở thành động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế. TPHCM có lợi thế về quy mô thị trường, nguồn nhân lực sáng tạo, cộng đồng doanh nghiệp và khả năng kết nối quốc tế; đồng thời đang hình thành những mô hình, phương thức hoạt động mới, đòi hỏi cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý phù hợp. Dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa cần được thiết kế theo hướng không chỉ “quản lý” công nghiệp văn hóa mà quan trọng hơn là “kiến tạo” thị trường và hệ sinh thái phát triển. Cần có cơ chế đột phá, đồng bộ, khả thi về tài chính, đất đai, quy hoạch, đầu tư, thuế, thủ tục hành chính, sở hữu trí tuệ và tiếp cận hạ tầng văn hóa; tạo cơ sở phát triển các trung tâm, cụm, khu công nghiệp văn hóa, tổ hợp sáng tạo; thúc đẩy hợp tác công - tư, xã hội hóa trong đầu tư, quản lý, khai thác thiết chế và hạ tầng văn hóa.

Phó Chủ tịch UBND TPHCM Nguyễn Mạnh Cường phát biểu tại Hội nghị lấy ý kiến góp ý dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa do Bộ VH-TT-DL vừa tổ chức ở TPHCM

Tin cùng chuyên mục