Báo SGGP xin giới thiệu bài viết của ông, từ góc nhìn tạo dựng môi trường kinh doanh cho mọi thành phần kinh tế được cạnh tranh lành mạnh, cùng phát triển.
Làm luật trong tâm thế “dò đá qua sông”
Đúng 40 năm trước, Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đã mở ra con đường Đổi mới. Để dũng cảm bắt đầu hành trình tất yếu nhưng đầy gian nan đó, trước hết phải nhắc đến vai trò đặc biệt quan trọng của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh trong việc chỉ đạo viết lại Báo cáo Chính trị trình Đại hội, thể hiện rõ bước đổi mới tư duy về cơ cấu kinh tế, chuyển hướng đầu tư và phát triển sản xuất vào các mục tiêu cơ bản và cấp bách để vượt qua khủng hoảng kinh tế - xã hội. Nền kinh tế nhiều thành phần được chính thức công nhận; kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo, cùng với kinh tế tập thể và kinh tế gia đình gắn với nó hợp thành lực lượng kinh tế xã hội chủ nghĩa chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế. Cơ chế quản lý kinh tế đổi mới mạnh mẽ, xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa theo nguyên tắc tập trung dân chủ. Nhưng cần nói rõ rằng, lúc này mới chấp nhận kinh tế hàng hóa và sử dụng quan hệ hàng hóa - tiền tệ để xây dựng nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, chưa thoát khỏi lối mòn tư duy e dè trước kinh tế thị trường và cơ chế thị trường.
Kế nhiệm Tổng Bí thư Trường Chinh, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh tiếp tục cổ vũ mạnh mẽ cho tinh thần "nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật". Trước đó trên cương vị Bí thư Thành ủy TPHCM, đồng chí Nguyễn Văn Linh từng biến TPHCM thành "phòng thí nghiệm" cho các chính sách kinh tế mới và thấu hiểu rằng cơ chế "quan liêu bao cấp" đang kìm hãm sản xuất như thế nào. Dưới sự lãnh đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, từ năm 1987, công tác kế hoạch bắt đầu chuyển biến mạnh mẽ, đi vào định hướng, giảm dần các chỉ tiêu pháp lệnh và quan trọng là loại bỏ dần cơ chế “xin - cho”.
Cũng phải kể đến một yếu tố quan trọng khác: Luật Đầu tư nước ngoài được bắt đầu soạn thảo từ năm 1984; ban hành năm 1987. Câu hỏi đặt ra là khối doanh nghiệp nước ngoài đã có đạo luật riêng để điều chỉnh, vì sao doanh nghiệp trong nước lại không có? Trong bối cảnh ấy, cuối những năm 1980, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương được giao nhiệm vụ chủ trì soạn thảo Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990. Cần nhớ rằng Hiến pháp lúc đó chưa thừa nhận kinh tế tư nhân. Trong nhận thức phổ biến, kinh doanh vẫn bị xem như “quyền của Nhà nước”. Dù 2 đạo luật này là những "viên gạch" đầu tiên đặt nền móng pháp lý cho kinh tế tư nhân, nhưng chúng vẫn tồn tại những khiếm khuyết lớn. Luật Công ty chỉ hơn 40 điều, Luật Doanh nghiệp tư nhân hơn 20 điều, quá “mỏng” so với sự phức tạp của thị trường. Thậm chí, khái niệm "công ty" khi đó còn bị hiểu bó hẹp, nhiều người cho rằng phải có đủ 10 người trở lên mới thành lập được công ty. Đáng nói hơn cả là các đạo luật này vẫn coi quyền kinh doanh là do Nhà nước “ban phát”. Doanh nghiệp phải có kế hoạch kinh doanh, phải xin phép và chịu sự can thiệp ngặt nghèo từ cơ quan công quyền.
Những chuyến đi thực tế đến các địa phương khiến chúng tôi day dứt hơn cả. Quyền tự do kinh doanh của người dân bị ngăn trở bởi những "ghềnh đá" khổng lồ. Chúng tôi vẫn nhớ rất rõ cảm giác ngạc nhiên khi chứng kiến cách các quy định trong Luật Công ty 1990 bị thực hiện hết sức máy móc, hình thức. Những tiêu chí tưởng như hợp lý về năng lực hành vi, tình trạng pháp lý của người thành lập doanh nghiệp đã bị đẩy thành vô số “giấy phép con”: xác nhận đủ tuổi, xác nhận không mất trí, xác nhận không bị truy cứu trách nhiệm hình sự… Chúng tôi đã thống kê được danh mục 300 loại “giấy phép con”, thậm chí có cả giấy phép cho việc bán đồng nát, ve chai (?!). Người dân phải thu thập đủ 42 con dấu và 42 chữ ký từ cấp thôn xóm đến cấp tỉnh mới có thể thành lập doanh nghiệp. Doanh nghiệp bị giới hạn hoạt động theo địa giới hành chính…
Mở ra cánh cửa lớn
Những chuyến khảo sát thực tế đã khiến chúng tôi có nhiều trăn trở và suy ngẫm. Bên cạnh đó, nhờ được tiếp cận đầy đủ hơn với kinh tế thị trường trong quá trình học tập, nghiên cứu ở nước ngoài, học hỏi kinh nghiệm quốc tế - thông qua các nhóm chuyên gia hàng đầu liên tục làm việc tại Việt Nam trong nhiều năm, nên khi được tham gia sửa Luật Công ty 1990 và trực tiếp chấp bút Luật Doanh nghiệp 1999, nhóm soạn thảo chúng tôi đã gửi gắm vào dự thảo Luật Doanh nghiệp 1999 những câu chữ tưởng như rất đơn giản, nhưng có ý nghĩa sống còn. Chẳng hạn như quy định cơ quan đăng ký kinh doanh “không được yêu cầu người thành lập doanh nghiệp nộp thêm bất kỳ giấy tờ nào ngoài hồ sơ luật định”. Đó không chỉ là kỹ thuật lập pháp, mà là sự kết tinh của cả một quá trình thay đổi nhận thức.
Sự thay đổi lớn nhất của Luật Doanh nghiệp 1999, chuyển từ tư duy “xin - cho” sang nguyên tắc “được làm những gì pháp luật không cấm”. Các nhà lãnh đạo sẵn sàng lắng nghe, trao đổi, thảo luận, tiếp thu và cương quyết bảo vệ những thay đổi, cải cách phù hợp, xóa bỏ rào cản đối với quyền tự do kinh doanh của người dân. Nếu không có bối cảnh khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997, nếu không có quyết tâm cải cách thủ tục hành chính và tinh thần đổi mới mạnh mẽ của lãnh đạo Đảng, Nhà nước thời điểm đó, rất có thể Luật Doanh nghiệp 1999 đã không ra đời.
Ở khoảnh khắc Quốc hội bấm nút thông qua Luật Doanh nghiệp 1999, với hơn 84% đại biểu tán thành, một cánh cửa lớn cho nền kinh tế đã thực sự được mở ra.
Đổi mới tư duy không dừng ở ban hành luật
Tất nhiên, ban hành luật mới chỉ là bước khởi đầu. Cần phải thực sự đổi mới tư duy, kiên định bảo đảm, bảo vệ quyền tự do kinh doanh của người dân và doanh nghiệp, giải quyết thấu đáo những khó khăn thực tế mà họ đang phải đối mặt. Cuộc chiến chống giấy phép con đầu những năm 2000, với hàng trăm loại giấy phép bị bãi bỏ, cho thấy tư duy cũ có sức ỳ rất lớn và có thể quay trở lại bất cứ lúc nào nếu không cải cách đến cùng. Những năm sau này, dù không gian tự do kinh doanh tiếp tục được mở rộng qua các lần sửa đổi Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, nhưng cảm nhận “an tâm” của doanh nghiệp tư nhân vẫn chưa tăng tương xứng. Giấy phép con, điều kiện kinh doanh, sự chồng chéo của pháp luật, thiếu thống nhất trong thực thi… vẫn là những rào cản hữu hình và vô hình.
Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 4-5-2024 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục đem đến một luồng gió mới. Song từ trải nghiệm nhiều năm làm chính sách, chúng tôi cho rằng thách thức lớn nhất nằm ở khâu thể chế hóa thành hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ và quá trình thực thi thông suốt.
Nhìn lại chặng đường 40 năm đổi mới, chúng tôi càng tin rằng mỗi bước tiến của kinh tế tư nhân đều bắt đầu từ một bước đổi mới tư duy. Nghị quyết 68 đã tạo ra cơ hội lớn chưa từng có để tháo gỡ, thậm chí đập bỏ những cấu trúc pháp lý đã lỗi thời; khôi phục và củng cố niềm tin của người dân và doanh nghiệp vào quyền tự do kinh doanh thực chất, tài sản được bảo vệ, tránh được rủi ro hình sự hóa các quan hệ dân sự… Vấn đề còn lại là chúng ta có đủ dũng khí để biến tư duy đúng đắn đó thành thể chế sống động, hiệu quả và kiên trì thực hiện đến cùng hay không.