Gia tăng nội lực trong một thế giới bất định

Tự chủ chiến lược là điều kiện sống còn

Cuối tháng 3 vừa qua, phát biểu khai mạc Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV, Tổng Bí thư Tô Lâm nêu rõ, những xung đột về địa chính trị, địa kinh tế, công nghệ, năng lượng, chuỗi cung ứng, dữ liệu và thị trường đang làm thay đổi sâu sắc môi trường phát triển của các quốc gia. Đất nước đứng trước thời cơ lớn để bứt phá, nhưng cũng đang đối mặt với những thách thức rất lớn, buộc chúng ta phải phát triển nhanh hơn, bền vững hơn nhằm nâng cao toàn diện đời sống nhân dân, củng cố tự chủ chiến lược.

Rõ ràng, “tự chủ chiến lược” không còn là khái niệm xa vời trên các diễn đàn nghị sự, mà là điều kiện sống còn để bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì dư địa chính sách để ứng phó hiệu quả với những cú sốc từ bên ngoài. Trong bối cảnh tái cấu trúc toàn cầu, tự chủ chiến lược không có nghĩa là tự cung tự cấp hay giảm hội nhập. Ngược lại, thế giới càng biến động, chúng ta phải hội nhập rộng hơn để mở ra các không gian lựa chọn mới, tránh lệ thuộc mang tính hệ thống vào một nguồn lực, một thị trường hay một chủ thể duy nhất.

3- Sản xuất chíp bán dẫn tại Công ty TNHH Hana Micron Vina (một doanh nghiệp có vốn FDI Hàn Quốc), Khu công nghiệp Vân Trung, phường Nếnh, tỉnh Bắc Ni.jpg
Sản xuất chíp bán dẫn tại Công ty TNHH Hana Micron Vina, Khu Công nghiệp Vân Trung, tỉnh Bắc Ninh Ảnh: VIẾT CHUNG

Không phải đến bây giờ “tự chủ chiến lược” mới được đặt ra, nhưng yêu cầu này đang trở nên bức thiết hơn bao giờ hết trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục biến động rất nhanh, rất mạnh, gần như không thể dự báo. Tự chủ chiến lược, tự lực tự cường là điều kiện tiên quyết giúp nước ta đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao như mục tiêu đã được Đại hội XIV của Đảng xác định.

Tự chủ chiến lược về kinh tế và chuỗi cung ứng chính là khả năng duy trì ổn định vĩ mô và an ninh năng lượng ngay cả khi thương mại toàn cầu gián đoạn hay xung đột địa chính trị gia tăng. Trọng tâm là phải xác định được các “nút thắt chiến lược”, đa dạng hóa nguồn cung và có năng lực thay thế khi các điều kiện bên ngoài thay đổi. Dù vậy, nền kinh tế Việt Nam vẫn khá “mong manh”.

Trước năm 1988, Việt Nam phải nhập khẩu lương thực, dù là nước nông nghiệp. Nghị quyết 10 (khoán 10) của Bộ Chính trị năm 1988 đã thay đổi căn bản quan hệ sản xuất, giao quyền tự chủ cho hộ nông dân. Kết quả là chỉ sau một năm, từ chỗ thiếu ăn, năm 1989, Việt Nam lần đầu xuất khẩu được 1,2 triệu tấn gạo. Trong công nghiệp, dù tỷ lệ nội địa hóa ngành ô tô nói chung còn thấp, nhưng nhờ đầu tư bài bản, Tập đoàn Thaco (Trường Hải) hiện đã làm chủ được nhiều công nghệ sản xuất linh kiện và xuất khẩu ngược lại sang thị trường Mỹ, Hàn Quốc… Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp tiềm năng của Bộ KH-ĐT (nay là Bộ Tài chính) phối hợp với những tập đoàn như Samsung đã giúp tăng số lượng doanh nghiệp Việt trở thành nhà cung ứng cấp 1 cho Samsung - từ 4 doanh nghiệp (năm 2014) lên 51 doanh nghiệp (năm 2023).

Tuy thế, mức độ tự chủ chiến lược của Việt Nam nhìn chung còn yếu. Khu vực kinh tế nước ngoài (FDI) vẫn đang chi phối xuất khẩu và công nghiệp chế biến, chế tạo. Điều này có nghĩa là một động lực tăng trưởng chủ yếu đang phụ thuộc vào quyết định và chuỗi cung ứng toàn cầu của những tập đoàn đa quốc gia. Khi chuỗi cung ứng bị đứt gãy do chiến tranh, tổn thương này càng lộ rõ. Tăng trưởng đang dựa quá nhiều vào vốn tín dụng ngân hàng, nhưng dòng vốn này lại bị phân bổ lệch sang bất động sản và khai thác địa tô thay vì ưu tiên cho công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D) và sản xuất công nghiệp. Nhìn vào con số 0,5% chi cho R&D (ước tính năm 2025) của chúng ta so với 3,22% của Phần Lan, hay tỷ lệ nội địa hóa ngành điện tử chưa quá 10%, có thể thấy rõ ràng “nội lực” không thể đến từ những lời kêu gọi cảm tính, mà phải là kết quả của một chiến lược nắn dòng vốn thực thụ từ bất động sản sang phòng thí nghiệm và xưởng sản xuất.

Biến nội lực thành một khối thống nhất

Để tăng cường năng lực nội sinh, ưu tiên hàng đầu là cải cách thực chất và mạnh mẽ về thể chế phân bổ nguồn lực. Phải làm cho đất đai trở thành tư liệu sản xuất thực thụ chứ không phải tài sản đầu cơ. Để đất đai trở thành tư liệu sản xuất thực thụ, Việt Nam có thể tham khảo cách Singapore “nắn chỉnh” dòng tiền. Tất nhiên, kinh nghiệm quốc tế là để tham khảo. “Đột phá” như thế nào còn tùy vào tình hình cụ thể của Việt Nam và những dự liệu nhiều bề của các nhà lập pháp. Nhưng có một điểm chung cho mọi nền kinh tế: bãi bỏ những rào cản hành chính đang kìm hãm doanh nghiệp; tạo dựng niềm tin về sự an toàn pháp lý để người dân và doanh nghiệp yên tâm đổ vốn vào sản xuất dài hạn. Cùng với đó, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và trí tuệ nhân tạo (AI) được coi là động lực chính để bứt phá năng suất; xây dựng thị trường dữ liệu minh bạch, xóa bỏ tình trạng “cát cứ dữ liệu” để tạo nền tảng cho chuyển đổi số thực chất.

cang-bien-ojpnjpg-3739 (Phu Ngan).jpg
Bến cảng tại khu vực Cái Mép - Thị Vải. Ảnh: PHÚ NGÂN

Với khối FDI, gia tăng nội lực là điều chỉnh, đàm phán dựa trên những nhu cầu thực tế. Những chính sách ưu đãi nên gắn liền với tỷ lệ chi cho R&D tại Việt Nam, đào tạo nhân lực chất lượng cao và phát triển nhà cung ứng nội địa. Nếu FDI không đáp ứng được mục tiêu góp phần nâng cao nội lực, chúng ta không nên ưu tiên bằng mọi giá.

Song song với việc lựa chọn FDI, có thể cân nhắc áp dụng cách làm của những quốc gia Bắc Âu: thay vì chỉ cấp ngân sách cho các viện nghiên cứu, Chính phủ cấp trực tiếp cho doanh nghiệp những gói hỗ trợ tài chính để họ thuê chất xám từ trường đại học nhằm giải quyết từng bài toán kỹ thuật cụ thể. Luật Công nghệ cao 2025 đã nêu rõ khái niệm “doanh nghiệp công nghệ chiến lược”, mở đường cho những đơn vị này tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cao nhất, thậm chí là sự bảo trợ đặc biệt khi vươn ra thị trường quốc tế. Dĩ nhiên, hệ thống văn bản hướng dẫn đã đủ rõ ràng để áp dụng chưa và nguồn lực dành cho mục đích này đã đáp ứng được yêu cầu hay chưa lại là câu chuyện dài khác.

Bên cạnh đó là yêu cầu nuôi dưỡng “đại bàng nội” và mối liên kết giữa “đại bàng” với “sẻ đồng”. Chúng ta rất cần những chính sách khuyến khích những tập đoàn lớn trong nước đóng vai trò trung tâm, tạo ra hệ sinh thái cung ứng nội bộ, không chỉ giúp giảm mức độ phụ thuộc vào linh kiện ngoại nhập mà còn tạo ra sự cộng hưởng sức mạnh, biến “nội lực” thành một khối thống nhất thay vì những mảnh ghép rời rạc.

Cuối cùng, nhưng không kém phần quan trọng: đào tạo nhân lực theo tiêu chuẩn “tự chủ chiến lược”. Chẳng hạn, những chính sách ưu đãi đất đai cho FDI nên đi kèm với yêu cầu doanh nghiệp FDI cam kết chuyển giao vị trí quản lý then chốt cho người Việt. Đồng thời, Nhà nước đầu tư mạnh mẽ vào những chương trình đào tạo chuyên sâu về các lĩnh vực công nghệ cốt lõi, dần dần xây dựng đội ngũ kỹ sư có khả năng làm chủ các công nghệ chiến lược thay vì chỉ vận hành máy móc của nước ngoài.

Cuộc khủng hoảng năng lượng tháng 3-2026 đã nhắc nhở chúng ta rằng, nếu không có nội lực đủ mạnh, hội nhập sẽ chỉ mang lại sự phụ thuộc ngày càng lớn. Việt Nam cần quyết tâm chính trị mạnh mẽ để đưa nền kinh tế quay về đúng quỹ đạo: lấy cải cách thể chế làm điều kiện đủ, lấy nội lực làm gốc rễ để vươn mình. Thế giới “phẳng”, nhưng ngay cả lúc những ngả đường hội nhập bị tắc nghẽn, gập ghềnh vì những lý do bất khả kháng, chúng ta vẫn phải đủ mạnh mẽ để đứng vững và bước tiếp.

Cách “nắn” dòng tiền của Singapore

Singapore đã dùng thuế lũy tiến để biến việc găm giữ đất bỏ hoang thành một gánh nặng tài chính, từ đó buộc nguồn lực xã hội phải chảy vào những nơi tạo ra giá trị gia tăng thực sự. Singapore không cấm người dân mua nhiều nhà, nhưng họ đánh thuế rất nặng vào căn nhà thứ 2, thứ 3 trở đi. Hiện tại, người dân Singapore mua nhà thứ 2 phải nộp thuế 20%, nhà thứ 3 là 30%, riêng người nước ngoài phải nộp thuế tới 60%. Khi chi phí sở hữu cao hơn mức tăng giá kỳ vọng, dòng vốn sẽ tự động rút khỏi bất động sản để tìm đường vào những lĩnh vực sinh lời khác như công nghệ hay sản xuất công nghiệp. Một công cụ khác là thuế tài sản (Property Tax) được thiết kế lũy tiến theo giá trị cho thuê ước tính hàng năm. Càng sở hữu bất động sản đắt đỏ hoặc không dùng để ở, mức thuế suất phải chịu càng cao, buộc chủ sở hữu phải khai thác tối đa giá trị kinh tế của mảnh đất.

Cùng với đó, Luật Thu hồi đất (Land Acquisition Act) của Singapore trao cho nhà nước quyền thu hồi đất tư nhân cho các mục đích phát triển công cộng với mức giá bồi thường do nhà nước ấn định, đảm bảo quỹ đất luôn sẵn sàng cho các khu công nghiệp chuyên sâu hoặc hạ tầng chiến lược.

Tạo hệ sinh thái nuôi dưỡng doanh nghiệp

Nếu Singapore sử dụng công cụ thuế để định hướng nguồn lực, thì các quốc gia Bắc Âu có những kinh nghiệm quý về việc tạo ra hệ sinh thái nuôi dưỡng doanh nghiệp. Chính phủ Đan Mạch cung cấp những loại “voucher” (phiếu mua dịch vụ) để doanh nghiệp nhỏ và vừa “mua” kiến thức từ các trường đại học hoặc viện nghiên cứu nhằm tối ưu hóa dây chuyền hay kiểm thử sản phẩm mới. Phần Lan đặt mục tiêu dành tới 4% GDP cho R&D vào năm 2030, tài trợ tới 50-60% chi phí cho các dự án nghiên cứu công nghiệp nếu doanh nghiệp và viện nghiên cứu “bắt tay” hợp tác. Chính phủ Na Uy đóng vai trò “người mua đầu tiên” cho các giải pháp xanh, khuyến khích doanh nghiệp nội địa chuyển đổi năng lượng từ các giếng dầu bỏ hoang hoặc rác thải biển.

TS NGUYỄN ĐÌNH CUNG

Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương

Tin cùng chuyên mục