Rác thải điện tử gây hại sức khỏe, môi trường

Điện tử là một trong những ngành công nghiệp phát triển nhanh nhất hiện nay. Nó đã và đang tạo ra một phạm vi phát triển nhanh chóng trong hầu hết các hoạt động của con người. Tuy nhiên, đằng sau “ánh hào nhoáng” của các sản phẩm điện tử và sự phát triển của ngành công nghiệp này là những mặt tối đáng lo ngại.

Thu gom rác thải điện tử. Ảnh: PHẠM CAO MINH

Nhiều hiểm họa

Theo nhận định của Trung tâm Phát triển và hội nhập (CDI), trung bình mỗi năm, một người Việt Nam thải ra môi trường khoảng 1kg rác thải điện tử. Với 90 triệu dân, tổng lượng rác thải điện tử lên tới 90.000 tấn/năm. Sự thay đổi công nghệ nhanh chóng đã rút ngắn vòng đời của sản phẩm điện tử. Các sản phẩm điện tử hư hỏng hoặc lỗi thời bị thải bỏ trở thành rác điện tử đang phát triển với tốc độ nhanh gấp 3 lần các loại rác thải khác.

Hiện Việt Nam vẫn chưa có một nghiên cứu toàn diện về an toàn vệ sinh lao động trong ngành điện tử cũng như các chương trình nâng cao nhận thức các tác động tiêu cực của ngành này đối với sức khỏe con người và môi trường.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu trên thế giới đã chỉ rõ rác thải điện tử là loại rác thải cực độc hại, có nguy cơ “hủy diệt” môi trường (không khí, đất, nước) và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe con người. Các bệnh phổ biến là bệnh ung thư, bệnh liên quan đến đường hô hấp, tim mạch và thần kinh.

Ông Sanjiv Pandita, Trung tâm Giám sát nguồn nhân lực châu Á - AMRC, cho biết, hơn 300 triệu chip điện tử được sản xuất hàng năm đòi hỏi việc sử dụng một lượng đáng kinh ngạc hóa chất độc hại, kim loại và các loại khí. Hóa chất độc hại là nguyên liệu cần thiết cho thiết bị điện tử, cộng với hàng ngàn hóa chất đang được sử dụng trong quá trình sản xuất ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe của người lao động, cộng đồng và môi trường.

Vấn đề này đã được nhiều quốc gia trên thế giới như Mỹ, Scotland, Hàn Quốc cảnh báo. Công nhân làm việc trong ngành này thường phải tiếp xúc với các mối nguy hại từ axít trong quá trình ăn mòn, làm sạch thiết bị, chất khí dễ cháy nổ, hơi khí độc, dung môi trong quá trình làm sạch, mạ, phủ kim loại, quá trình quang hóa, tia laser, tia cực tím và phóng xạ… Số liệu thống kê của Tổ chức Lao động thế giới (ILO) cho thấy, mỗi năm có 160 triệu người mắc bệnh nghề nghiệp, có khoảng 438.000 người bị chết do hóa chất nguy hiểm gây ra.

Theo số liệu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), hơn 9% số trường hợp ung thư phổi bắt nguồn từ các sản phẩm hóa chất và 800.000 trẻ em bị nhiễm độc hóa chất.

Thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp

Để hạn chế tình trạng này, theo các chuyên gia, chúng ta cần đẩy mạnh việc tuyên truyền phổ biến Bộ luật Lao động. Trong đó chú trọng các nội dung về an toàn vệ sinh lao động cho ngành điện tử, các đối tác liên quan; tăng cường nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của điều kiện lao động sản xuất và lắp ráp điện tử đến sức khỏe người lao động và môi trường sinh thái, để xác định rõ các ảnh hưởng của điều kiện lao động đến sức khỏe của người lao động.

Từ đó, có các biện pháp phòng tránh kịp thời kéo dài tuổi đời, tuổi nghề cho người lao động, đặc biệt là lao động nữ; rà soát xây dựng hệ thống quy chuẩn an toàn vệ sinh lao động về hóa chất, điện từ trường, phóng xạ đảm bảo an toàn cho người lao động và tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế.

Khi xây dựng, ban hành Luật An toàn vệ sinh lao động cần có các chương riêng cho các yếu tố nguy hiểm như hóa chất, điện từ trường, phóng xạ… Cần tiến hành các biện pháp can thiệp để bảo vệ người lao động như lập hệ thống hồ sơ theo dõi sức khỏe của người lao động trước, trong và sau quá trình làm việc ở các nhà máy điện tử.

Chia sẻ về vấn đề này, bà Ngô Vân Hoài, Trưởng nhóm nghiên cứu của CDI, cho biết, trên thực tế, ở Việt Nam chưa có một nghiên cứu toàn diện về an toàn vệ sinh lao động trong ngành điện tử, cũng như các chương trình nâng cao nhận thức các tác động tiêu cực của ngành này đối với sức khỏe con người và môi trường.

Xuất phát từ thực tế đó, CDI đề xuất với Tổ chức Oxfam Bỉ (OSB) trong khuôn khổ dự án “Thúc đẩy và bảo vệ quyền của công nhân nhập cư tại các khu công nghiệp tiến hành hoạt động nghiên cứu bước đầu đánh giá ảnh hưởng của điều kiện lao động đến người lao động tại các nhà máy sản xuất, lắp ráp điện tử ở Việt Nam”.

Trước mắt, Chính phủ cần đẩy mạnh các giải pháp thanh tra, kiểm tra về thực thi pháp luật lao động như vấn đề giờ làm thêm; đo kiểm môi trường, khám để phát hiện bệnh nghề nghiệp. Mặt khác, xây dựng cơ chế khuyến khích hỗ trợ doanh nghiệp thực thi tốt trách nhiệm xã hội, xây dựng mạng lưới hỗ trợ thông tin về an toàn sức khỏe nghề nghiệp cho lao động; cập nhật chia sẻ các thông tin trong nước và quốc tế về các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe người lao động làm việc trong ngành điện tử; phối hợp với các tổ chức liên quan, doanh nghiệp xây dựng thỏa ước lao động tập thể ngành, trong đó chú ý đến việc xây dựng chế độ giờ làm việc, nghỉ ngơi theo quy định của Bộ luật Lao động.

MINH HẢI

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất thép

Giảm phát thải khí nhà kính trong sản xuất thép

Ngành thép Việt Nam đã phát triển với tốc độ cao thời gian qua, trung bình 18% cho sản xuất và 20% cho tiêu dùng. Mức tăng trưởng này sẽ duy trì cao trong tương lai, tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực tiêu tốn nhiều năng lượng cũng như phát thải nhiều khí nhà kính.

Thích ứng với biến đổi khí hậu

Nâng cao tỷ lệ phát triển năng lượng tái tạo

Trong chiến lược phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) ở Việt Nam, Chính phủ đã đặt ra các chỉ tiêu cụ thể như tăng tỷ lệ NLTT trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp lên 32,3% vào năm 2030 và khoảng 44% vào năm 2050; tỷ lệ điện năng sản xuất từ NLTT tăng 32% vào năm 2030 và lên 42% vào năm 2050. 

Phát triển bền vững

Bình Dương tăng tốc phát triển du lịch

Năm 2017, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết 08 về phát triển du lịch (DL) trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, Chính phủ ban hành Nghị quyết 103 đề ra Chương trình hành động về phát triển DL trở thành ngành kinh tế mũi nhọn. Trên cơ sở đó, Tỉnh ủy Bình Dương đã ban hành Kế hoạch số 33 để tăng tốc phát triển ngành du lịch của tỉnh.

Phòng cháy chữa cháy

Hợp tác kinh tế và đầu tư

Long An - “Địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư

Với chiến lược đầu tư hạ tầng và chính sách hợp lý trong thời gian qua đã giúp tỉnh Long An trở thành điểm sáng, “địa chỉ đỏ” thu hút đầu tư, nhất là đầu tư nước ngoài. Đồng thời, Long An cũng biết cách khai thác các tiềm năng, lợi thế của địa phương mình để vươn lên phát triển trong tốp đầu của khu vực ĐBSCL.