Đi qua chiến tranh bằng tình yêu - Bài 4: Cuộc gặp đặc biệt sau chuỗi chia ly

Cùng mất bạn đời trong chiến tranh, họ đã tìm thấy nhau theo một cách rất đặc biệt. Tổ ấm được kết nên từ nghĩa lớn, từ thương yêu chân thành và cả sự trân trọng quá khứ, gìn giữ ký ức về những người đã ngã xuống.

Cựu chiến binh Lê Trường Giang (sinh năm 1944), Trưởng ban Liên lạc truyền thống Trung đoàn 16 và vợ - bà Nguyễn Thị Lan (sinh năm 1950) đều từng trải qua nỗi đau: người mất vợ vì bom đạn, người bặt tin chồng nơi chiến trường.

Sau những cuộc chia ly

Tháng 4-1964, chàng thanh niên Lê Trường Giang nên duyên cùng người bạn thiếu thời Hà Thị Vỵ. Đó là một đám cưới đơn sơ không áo cưới, không giày, không nón; chỉ đi bộ từ nhà này sang nhà kia ăn bữa cơm là coi như thành vợ thành chồng. Hạnh phúc ngắn ngủi, vài tháng sau, ông tình nguyện nhập ngũ.

Ngày chia tay, ông chỉ kịp dặn người vợ trẻ ở nhà chăm sóc cha mẹ già, gánh vác việc đồng áng và thỉnh thoảng gửi thư vào chiến trường. Nhưng những cánh thư chưa bao giờ đến tay nhau. Đơn vị hành quân liên tục, mọi thông tin đều tuyệt mật.

&5a.jpg
Vợ chồng ông Giang - bà Lan tìm thông tin của một số liệt sĩ trong cuốn sổ do ông và đồng đội tổng hợp. ẢNH: DIỄM MI

Chiến tranh cuốn người lính trẻ đi qua những trận đánh khốc liệt. Năm 1973, khi còn ở chiến trường, ông mới nghe tin vợ đã qua đời từ năm 1968. Bà hy sinh khi tham gia phong trào lao động của địa phương. “Vỵ ra đi khi mới 25 tuổi. Em bỏ lại công việc dang dở, bỏ lại con thơ chưa đầy 3 tuổi, bỏ lại cả tuổi xuân còn chưa kịp sống trọn. Ngày ấy, tôi đang tham gia chiến đấu trong chiến dịch Mậu Thân tại Sài Gòn, hoàn toàn không biết người vợ yêu dấu đã ngã xuống dưới bom đạn chiến tranh”, ông Giang xúc động nhớ lại.

Sau ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, ông Giang được phân công làm nhiệm vụ quân quản tại Sài Gòn. Người sĩ quan trẻ mang quân hàm Trung úy chưa dám nghĩ đến việc tìm hạnh phúc cho riêng mình vì còn lo cho con nhỏ, chăm sóc cha mẹ già.

Cùng quê, bà Nguyễn Thị Lan cũng đang sống với nỗi đau riêng. Chồng bà - liệt sĩ Nguyễn Phi Hà - cưới bà tháng 9-1971 trong đợt về phép. Ít tháng sau, ông lên đường sang chiến trường Lào và hy sinh tháng 2-1972, đến nay vẫn chưa được tìm thấy. Ba năm sau ngày chồng hy sinh, bà Lan vẫn ở lại chăm sóc cha mẹ chồng và các em chồng, làm tròn bổn phận một người con dâu.

Cuộc gặp giữa hai con người chung cảnh ngộ diễn ra giản dị đến lạ. Một sáng mùa thu năm 1975, đơn vị cho về phép, ông Giang về nhà. Nhìn cha mẹ đã già yếu và cô con gái nhỏ mồ côi mẹ gầy nhom ngơ ngác, xa lạ với cha, lòng ông quặn thắt. Mấy ngày sau đó, ông đưa con gái đi thăm họ hàng và tình cờ gặp bà Lan. Lân la hỏi thăm bà con lối xóm, ông biết rõ hơn về hoàn cảnh của bà. Biết cả việc bà đã nhiều năm ở vậy chăm sóc cha mẹ chồng, tần tảo làm lụng, quán xuyến gia đình chồng liệt sĩ dù còn rất trẻ. Sự đảm đang, chịu thương chịu khó và nghĩa tình của bà khiến ông cảm phục.

Không ai mai mối, cứ thế ông đạp xe đến nhà bà. Hai người nói chuyện chưa đầy 3 phút. “Anh muốn cưới em về làm vợ được không?”, ông hỏi. Bà khẽ gật đầu. “Cùng cảnh ngộ, một người mất vợ, một người mất chồng đều vì chiến tranh nên tôi đồng ý. Chắc bởi có sự đồng cảm...” - bà Lan giải thích về cuộc gặp kỳ lạ và quyết định khó tin đó.

Gìn giữ nghĩa tình, viết tiếp những điều còn dang dở

Sau ngày cưới, ông Giang chỉ ở nhà hơn 1 tháng rồi trở lại đơn vị, thi thoảng mới được về phép. Trong suốt 15 năm ông xa nhà, bà Lan một mình quán xuyến gia đình, chăm sóc cha mẹ chồng già yếu, nuôi con riêng của chồng như con ruột, vừa làm ruộng vừa tham gia công tác Hội Liên hiệp Phụ nữ xã. Vợ chồng ông cũng có thêm bốn người con. Sau này, cả gia đình vào Nam lập nghiệp.

“Mẹ con bé mất từ khi con còn quá nhỏ, cha lại biền biệt nơi chiến trường nên tôi thương cháu hơn cả con đẻ”, bà Lan tâm sự. Cô bé gầy yếu ngày ấy nhiều lần định bỏ học. Chính người mẹ thứ hai đã kiên trì động viên, khuyên nhủ con từng chút. Đến kỳ thi tốt nghiệp, bà còn viết thư gọi ông về đưa con đi thi. Nhờ tình yêu thương và sự chở che ấy, cô bé tiếp tục học hành, trở thành cán bộ quân y rồi nghỉ hưu với quân hàm Trung tá.

Khi cuộc sống dần ổn định, một hành trình khác lại bắt đầu. Hơn 20 năm qua, cựu chiến binh Lê Trường Giang dành trọn tâm huyết tìm kiếm hài cốt đồng đội. Ông cùng các cựu chiến binh lặn lội khắp chiến trường xưa, lần theo từng ký ức, từng nhân chứng để đưa hàng ngàn liệt sĩ trở về với gia đình. Phía sau những chuyến đi ấy luôn có một người phụ nữ lặng lẽ dõi theo. Ngôi nhà nhỏ của ông bà cũng trở thành điểm dừng chân của biết bao cựu chiến binh và thân nhân liệt sĩ từ khắp mọi miền. Có người vào Nam tìm mộ người thân, ở lại vài hôm. Có thương binh nặng bị đột quỵ được ông bà đón từ miền Bắc vào chữa bệnh.

Suốt nhiều năm, bà Lan lặng lẽ vun vén hương khói cho người vợ đầu của chồng. Mỗi dịp giỗ bà Vỵ, bà tự tay đi chợ, chuẩn bị mâm cơm cúng chu đáo. Còn với người chồng cũ được thờ nơi quê nhà, năm nào bà cũng gửi tiền về để các em lo giỗ chạp, hương khói. Với bà, nghĩa tình không khép lại cùng một cuộc hôn nhân mà được tiếp nối bằng lòng biết ơn, sự trân trọng và niềm tưởng nhớ dành cho những người đã khuất.

Chiến tranh đã lấy đi của ông bà tuổi trẻ, người bạn đời đầu tiên và cả những tháng năm hạnh phúc tưởng chừng rất đỗi bình thường. Nhưng cũng chính trong mất mát, họ tìm thấy nhau và cùng lựa chọn sống bằng sự bao dung, trách nhiệm và nghĩa tình. Đó không chỉ là một câu chuyện tình sau chiến tranh mà còn là vẻ đẹp của một thế hệ biết biến đau thương thành yêu thương, biến mất mát thành sự tiếp nối, để những sự hy sinh không bao giờ trở nên vô nghĩa.

Tin cùng chuyên mục