Đi qua chiến tranh bằng tình yêu - Bài 1: Yêu nhau từ một niềm tin

LTS: Chiến tranh đã lùi xa, nhưng những giá trị được hun đúc trong khói lửa đạn bom vẫn còn nguyên sức sống. Giữa những năm tháng khốc liệt, nhiều mối tình được vun đắp từ chung một lý tưởng; được thử thách bởi chia ly, tù đày và được nuôi dưỡng bằng lòng thủy chung son sắt.

Loạt bài “Đi qua chiến tranh bằng tình yêu” là lời tri ân một thế hệ đã hòa tình yêu đôi lứa vào tình yêu Tổ quốc, để từ những hy sinh thầm lặng ngày ấy làm nên hòa bình hôm nay và truyền lại cho các thế hệ sau niềm tin vào những giá trị không bao giờ cũ.

“Còn trời, còn nước, còn non

Anh còn hơi thở là còn yêu em”

Từ chốn lao tù khắc nghiệt của Côn Đảo, nơi cái chết luôn cận kề, tử tù chính trị Lê Hồng Tư vẫn gửi cho người đồng chí, người thương Nguyễn Thị Châu những câu thơ chan chứa yêu thương. Trong hoàn cảnh ấy, bà Châu hiểu, “còn hơi thở” không chỉ là lời hứa với người mình yêu mà còn là niềm tin vào ngày đất nước thống nhất. Bởi lẽ, với những chiến sĩ cách mạng, tình yêu đôi lứa chưa bao giờ tách rời tình yêu Tổ quốc.

Đằng đẵng 15 năm xa cách

Sinh năm 1934, quê xã Tân Nhựt, TPHCM, chàng trai Lê Hồng Tư học nghề thợ sắt, thợ tiện từ năm 14 tuổi. Giặc Pháp càn quét liên miên, chủ xưởng bóc lột, đẩy người làm thuê vào cảnh đói rách, lầm than. Nuôi chí lớn đánh đổ xã hội áp bức bất công, cởi bỏ kiếp ngựa trâu cho dân mình, Tư vừa làm vừa học văn hóa và đã giác ngộ cách mạng.

Ông tham gia tổ chức học sinh, sinh viên yêu nước Sài Gòn thuộc Khu đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam Khu Sài Gòn. Bị cảnh sát theo dõi, bắt hụt nhiều lần, ông buộc phải thay đổi công việc và nơi học. Đến đâu, ông cũng bắt tay gây dựng cơ sở.

Năm 1955, ông được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam và làm Bí thư Chi đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam Trường Văn Lang. Tại đây, ông tiếp cận, đưa bà Nguyễn Thị Châu đến với tổ chức và giao những nhiệm vụ đầu tiên. Lời tỏ tình của chàng trai trẻ khi ấy dẫu thắm thiết nhưng chỉ được đáp lại bằng ánh mắt không lời; bởi gia cảnh quá nghèo, cha qua đời sớm, bà Châu đã hứa với mẹ rằng không lập gia đình sớm để cùng mẹ chăm lo cho các em.

Hiểu lòng người thương còn ngổn ngang, ông không hối thúc mà chỉ động viên rằng cách mạng sẽ thành công, Nhà nước sẽ chăm lo cho người dân, ai cũng sẽ có cơ hội xây dựng hạnh phúc gia đình…

Một tối gặp nhau chóng vánh để từ biệt trước khi lên đường nhận nhiệm vụ mới, ông nắm tay bà. Những lời hò hẹn tuôn trào: “Bây giờ, Châu chưa nghĩ đến chuyện lập gia đình nhưng nếu sau này quyết định đó thay đổi thì hãy nghĩ đến đêm nay, đến tôi”.

Cuối năm 1960, ông rời chiến khu, trở lại Sài Gòn tìm người thương. Trên chiếc Mobylette, để qua mắt cảnh sát chìm, họ vào vai đôi tình nhân vãn cảnh. Hai người bàn kế hoạch gấp rút in, phát hành truyền đơn, tổ chức biểu tình chào mừng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam ra đời và chào mừng Hội Liên hiệp Sinh viên, học sinh giải phóng khu Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định. Vài phút trước khi từ biệt, ông không quên nhắc lại lời hẹn ước năm nào: “Còn sống trên đời này, tôi còn giữ ý định thành hôn với Châu. Dù phải đi hết vòng Trái đất để đến với Châu, tôi cũng sẵn lòng”.

!3B.jpg
Vợ chồng ông Lê Hồng Tư - Nguyễn Thị Châu bên con cháu (ẢNH: Nhân vật cung cấp)

Đôi mắt to tròn đen láy của bà Châu vẫn tiếp tục nói thay bao điều thầm lặng. Bà bước lên xe khách, ngoái gọi “Anh Tư…”. Nào ai biết được sau cái vẫy tay là đằng đẵng 15 năm xa cách. Bà Châu 2 lần bị bắt giam. Lần đầu vào đầu năm 1961. Lần sau vào ngày 23-4-1975, khi bắt đầu nhiệm vụ tham gia lãnh đạo khởi nghĩa ở quận 10, Sài Gòn và phối hợp với tiến công quân sự giải phóng hoàn toàn thành phố.

Ông Tư cũng bị đày đọa chốn lao tù 15 năm với 1 lần vượt ngục Côn Đảo không thành, 3 lần suýt bị hành quyết. Bàn tay đao phủ đã bị chặn đứng nhờ tiếng nói chính nghĩa đanh thép và hành động cảnh cáo nghiêm khắc từ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam cùng sự phản đối từ quần chúng nhân dân.

Lời hẹn dài bằng nửa cuộc đời

Với ông Tư, bà Châu hay bất kỳ người tù chính trị nào thời ấy, cuộc sống nơi ngục tù cũng là chuỗi ngày đối mặt vô số đòn khảo tra tàn khốc của kẻ thù. Thế nhưng, những trò tra tấn dã man ấy không dập được ý chí sắt son của người cộng sản và cũng không thể nghiền nát được ước vọng tình yêu.

Một tín hiệu nhỏ từ “nửa kia” cũng làm dậy lên bao kỷ niệm thân thương ngày tháng bên nhau tranh đấu. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua, ông vẫn nhớ như in lần gặp ở cầu Bình Tây, bà dúi vào tay ông món quà đưa tiễn gồm vài vật dụng và 200 đồng - số tiền bà dành dụm từ cả tháng nhịn ăn sáng.

Chút kỷ vật hay một cánh thư cũng tiếp thêm nghị lực để người chiến sĩ vượt qua những trận đòn tra tấn và những ngày tháng nơi xà lim đẫm máu. Còn miếng bạc mỏng nhặt từ thùng rác được ông kiên nhẫn giũa thành hình trái tim, một mặt khắc búa liềm, mặt kia khắc hai chữ “T.C.” lại trở thành món quà gửi gắm niềm tin, thắp lên trong bà hy vọng về ngày đoàn tụ.

Ông Hồng Tư chia sẻ: “Kỷ niệm sâu sắc, cảm động nhất của tôi là một lần sắp ra pháp trường, người tử tù như tôi lại được bạn tù nhắn: “Chị Nguyễn Thị Châu - vợ chưa cưới của anh - gửi lời thăm”. Và khi vinh dự được tham gia Đoàn đại biểu miền Nam ra thăm Bác Hồ vào sinh nhật Bác 19-5-1969, Châu đã thưa với Bác rằng mình là vợ chưa cưới của Lê Hồng Tư. Với tôi, sự thừa nhận này là một hy sinh rất lớn của người con gái”.

Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, hòa chung niềm vui non sông, hai cựu tù - hai thương binh đã tổ chức lễ tuyên hôn giản dị, ấm áp vào đêm trăng thanh bình. Hai năm sau, cậu con trai Lê Nguyễn Hồng Quang ra đời trong niềm hạnh phúc vẹn tròn.

Sau ngày 30-4-1975, bà được giao trọng trách Chủ tịch UBND Cách mạng lâm thời quận 10, thành phố Sài Gòn - Gia Định. Về sau, bà làm công tác phụ nữ, bảo vệ và chăm sóc trẻ em. Ông từng đảm nhận nhiều nhiệm vụ, nghỉ hưu khi là Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động TPHCM. Tự hào và tiếp nối truyền thống gia đình, anh Lê Nguyễn Hồng Quang hiện là Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy phường Minh Phụng, TPHCM. Vợ anh - tiến sĩ Trần Thị Huyền Thanh (Bí thư Đảng ủy phường Đông Hưng Thuận, TPHCM) cũng là con của hai cựu tù chính trị kiên trung thời kháng chiến chống Mỹ.

Bị tai biến cách đây vài năm, bà không còn nói được nhưng mỗi khi nghe ông nhắc lại chuyện tình của hai người, nụ cười hiền từ và ánh mắt bà vẫn ánh lên niềm hạnh phúc.

Đến thăm ông bà trong những ngày tháng Bảy tri ân, chúng tôi lặng người trước ánh mắt trìu mến và câu nói ân cần “Ngon không, ăn nữa đi” khi ông đút từng muỗng cơm cho bà. Ở tuổi 92, dù sức khỏe đã giảm sút, ông vẫn muốn tự tay chăm sóc người bạn đời đã cùng mình đi qua những năm tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh. “Bác Hồ dạy “Yêu Tổ quốc, yêu đồng bào”. Với tôi, đồng bào gần gũi nhất chính là vợ con, gia đình, dòng họ, lối xóm. Vậy sao mình lại không yêu nhau, vì nhau?”, ông Tư chân tình bộc bạch.

Tạm biệt ông bà, chúng tôi tiếp tục hành trình đến thăm những cặp đôi mà nhịp đập con tim của họ đã như những mũi chỉ hồng dệt nên bức tranh yên vui, thanh bình cho Tổ quốc. Ngoài kia, màu cờ tháng Bảy tri ân chói đỏ những ngả đường…

“Áo trắng em chưa vướng bụi đời

Chưa từng mơ tưởng chuyện xa xôi

Nhưng nay gặp cảnh đời chua xót

Áo trắng này nguyện trắng mãi thôi”.

Những vần thơ cô nữ sinh Nguyễn Thị Châu dùng chiếc kẹp tóc khắc lên tường nhà giam Tổng Nha Cảnh sát năm 1962


Mối tình đẹp

Anh ngỏ ý lần đầu

Em ngập ngừng từ chối

Trong lòng nghe vời vợi

Biết nói sao cho cùng

Đường kháng chiến mênh mông

Quê hương còn đau khổ

Em nén yêu, nén nhớ

Hỏi nữa, em làm thinh

Giặc xử anh tử hình

Trong xà lim em khóc

Giận quân thù ác độc

Em nói: Em vợ anh

Anh ơi, em vẫn tin

Anh sống hoài, sống mãi

Mặc cho án tử hình

Bao lâu em vẫn đợi.

Bài thơ đồng chí Trần Trọng Tân (nguyên Trưởng Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Quảng Trị, nguyên Phó Bí thư Thành ủy TPHCM) viết tặng vợ chồng ông Lê Hồng Tư - bà Nguyễn Thị Châu

Tin cùng chuyên mục