Những bộ phim với kinh phí sản xuất lên tới vài tỷ đồng (tiền nhà nước) nhưng khi phát hành chỉ có vài chục người xem làm nhức nhối không chỉ người trong giới mà cả những người quan tâm đến sự phát triển điện ảnh nước nhà. Trong khi đó, như một nghịch lý, vẫn có một dòng phim được thiên hạ đổ xô làm, tiền bỏ ra cũng hàng tỷ, phim làm ra cạnh tranh nhau để lọt vào rạp tốt, khán giả lũ lượt kéo nhau đi xem, nhiều rạp trong tình trạng “cháy vé”...
-
Phim... không người xem
“Đời cát” - một bộ phim có giá trị nghệ thuật nhưng vẫn ít khách.
Ấn tượng đối với những bộ phim về chiến tranh, bom đạn, về mất mát, hy sinh nhưng phần lớn nặng tính tài liệu hơn là tính truyện đã khiến thể loại phim này được khoác lên cái mác phim “cúng”.
Một thời gian khá dài, những bộ phim này không chỉ được nhà nước tài trợ kinh phí sản xuất mà còn tài trợ luôn cả chi phí quảng cáo, phát hành và cả chi phí… bù lỗ cho phim. Một vài phim trong số này có chất lượng thực sự, giành được một số giải thưởng trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, kết quả phát hành đôi khi không tương xứng. Bộ phim “Hà Nội 12 ngày đêm” – một trong những phim hiếm hoi có số ngày chiếu dài nhất tại TPHCM (11 ngày). Chi phí sản xuất là 7,1 tỷ đồng, thêm chi phí quảng cáo là 100 triệu đồng, chỉ 3 ngày đầu, lượng khán giả còn tạm chấp nhận, những ngày tiếp sau đó cả một rạp trên 2.000 ghế chưa đầy chục người xem.
Doanh thu tại TPHCM là 51,865 triệu đồng. “Giải phóng Sài Gòn”, kinh phí sản xuất phim 12,5 tỷ đồng, thời gian thực hiện lên tới mức kỷ lục: 10 năm, phim công chiếu nhân kỷ niệm 30 năm Ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Sau đợt chiếu này, phim được cất vô kho và mới đây nhân Quốc khánh 2-9, phim lại được lôi ra đưa vào kế hoạch phát hành phim lễ. Phim “Người đàn bà mộng du” chiếu duy nhất 1 buổi, bán được 14 vé. Phim “Ký ức Điện Biên” kinh phí sản xuất hơn 10 tỷ đồng trung bình 1 suất chiếu chỉ 4 người xem…
Không dễ xóa đi trong công chúng quan niệm về phim tuyên truyền, thêm vào đó việc quảng cáo, tiếp thị cho phim cũng không được quan tâm đúng mức. Quan niệm của chính những nhà phát hành phim: đằng nào phim cũng không có khách nếu quảng cáo sẽ chỉ lỗ thêm khiến cho công việc này chỉ mang tính tượng trưng. Phim “Giải Phóng Sài Gòn”, sát ngày chiếu còn làm hậu kỳ ở nước ngoài. Phim “Hà Nội 12 ngày đêm” chỉ có một bản chiếu duy nhất tại TPHCM.
Và mới đây nhất phim “Đường thư” chỉ chiếu đúng một buổi ra mắt với khoảng 200 khách mời trên tổng số 2.000 thư mời được phát ra. Những cái vòng luẩn quẩn như: phim sản xuất ra, quảng cáo lấy lệ, chiếu chiêu đãi, cất kho, cứ lặp đi lặp lại hết phim này qua phim khác, hết năm này qua năm khác.
-
Khán giả vẫn quan tâm đến phim Việt Nam…
Một cảnh trong “Chiến dịch trái tim bên phải” - bộ phim khá thành công của một đạo diễn trẻ.
Có đạo diễn liên tiếp nhiều ngày liền đến rạp chỉ để quan sát khán giả xếp hàng mua vé, sau đó lặng lẽ vào rạp không phải để coi phim mà là coi… thái độ khán giả xem phim mình. Hình ảnh khán giả đổ xô đi xem phim Việt Nam giờ đây không còn xa lạ. Những bộ phim “Gái nhảy”, “Lọ lem hè phố”, “Những cô gái chân dài”, “Khi đàn ông có bầu”, “Nữ tướng cướp” đều thành công về mặt doanh thu.
Năm nay, khí thế sôi nổi chạy đua của các chủ phim vừa nhà nước, vừa tư nhân trong việc sản xuất phim Tết cũng hứa hẹn một mùa phim nhiều bất ngờ. Thành công của các bộ phim mang tính giải trí khiến cho điện ảnh Việt Nam như khoác lên mình bộ mặt mới. Cuộc khảo sát cách đây khoảng 4 tháng trên mạng Vnexpress cho thấy khán giả Việt Nam quan tâm nhiều nhất tới phim giải trí.
Những bộ phim được đầu tư lớn, diễn viên đẹp, nội dung thỏa mãn thị hiếu chung của công chúng, nhất là công chúng trẻ, thêm vào đó việc quảng cáo, tiếp thị ồ ạt đã thành công trong việc lôi kéo khán giả đến rạp. Có cả những chiến lược được thành lập chỉ để nghiên cứu tâm lý khán giả, tìm cho ra những đề tài mới lạ, ấn tượng, từ đó bắt tay vào đầu tư cho kịch bản, thuê đạo diễn giỏi và săn tìm diễn viên. Chưa bao giờ việc làm phim lại trở nên chuyên nghiệp như thời điểm này.
Dòng phim nghệ thuật không ồn ào, phô trương như phim giải trí, nhưng đều đặn 1-2 năm, những người đam mê điện ảnh đích thực lại chờ đợi sự xuất hiện của các tác phẩm thuộc loại này. Để làm ra chúng, đạo diễn phải trăn trở, tâm huyết. Chính vì lẽ đó, các tác phẩm thường mang đậm dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ, kinh phí cho những bộ phim này cũng không hề thấp. Các bộ phim nghệ thuật làm ra thường được dành cho những kỳ liên hoan phim quốc tế, sau đó công chiếu phục vụ khán giả.
Tại Việt Nam, phát hành phim nghệ thuật là một vấn đề nan giải. Kinh phí quảng cáo, tiếp thị cho các bộ phim này không được ai quan tâm. Thời điểm phim được nhắc tới nhiều nhất (thông qua báo chí) đó là thời điểm bộ phim được chiếu ra mắt (chỉ báo chí và một bộ phận trong giới) và thời điểm phim đoạt giải thì khán giả lại chẳng hề thấy mặt mũi phim đâu. Đến khi phim được phát hành lại diễn ra âm thầm, lặng lẽ. “Mùa len trâu”, “Thời xa vắng”, “Mùa ổi”… là nỗi nhức nhối của những nhà làm phim không được “khoe” đứa con mà mình rất đỗi tự hào.
Có thể khẳng định: khán giả Việt Nam vẫn rất quan tâm đến phim Việt Nam. Bằng chứng là phim Việt Nam chiếu trên truyền hình vẫn thu hút đông đảo công chúng. Nhiều bộ phim giải trí của Việt Nam đủ sức đánh bật những bộ phim hay của nước ngoài (theo nhận xét của các chủ rạp).
Tuy nhiên, vấn đề công tác phát hành phim tuyên truyền và phim nghệ thuật, hơn lúc nào hết phải được các cấp có thẩm quyền tìm hướng giải quyết. Nên chăng một phương thức được xem là khá hiệu quả đã được áp dụng tại một số rạp ở Hà Nội như: 1 tuần chọn ra 1 buổi để chiếu những bộ phim này tại một rạp cố định cần được nhân rộng. Điều này thứ nhất tạo được thói quen cho người dân, thứ hai phục vụ được đúng đối tượng thực sự quan tâm đến phim, thứ ba không ảnh hưởng đến việc kinh doanh chung của rạp. Mỗi năm hàng tỉ, chục tỉ đồng bỏ ra làm phim… để cất kho, há chẳng đau lòng lắm thay!
HÀ GIANG