Mức thu phí được quy định đối với 18 loại khoáng sản, tùy theo đặc tính, giá trị kinh tế và mức độ tác động đến môi trường.
Nhóm khoáng sản có giá trị kinh tế cao được áp dụng mức phí lớn hơn. Cụ thể, đá block, bao gồm các khối đá hoa trắng, granite, gabro, bazan phục vụ ốp lát và mỹ nghệ, có mức thu cao nhất là 90.000 đồng/m3. Đá granite, gabro và bazan làm ốp lát, mỹ nghệ (trừ đá block) có mức thu 70.000 đồng/m3.
Một số loại khoáng sản có mức thu phí cao như: Sét chịu lửa, các khoáng sản không kim loại khác là 30.000 đồng/tấn; than khác có cùng mức thu 10.000 đồng/tấn; sỏi, cuội, sạn được áp dụng mức phí là 9.000 đồng/m3.
Đất khai thác để san lấp, xây dựng công trình và các loại đất khác có mức thu 2.000 đồng/m2. Đất sét, đất làm gạch ngói và nước khoáng thiên nhiên có mức thu 3.000 đồng/m3.
Đối với nhóm khoáng sản làm vật liệu xây dựng, đá làm vật liệu xây dựng thông thường có mức thu 7.500 đồng/m3, đá nung vôi, làm xi măng và khoáng chất công nghiệp có mức thu 6.750 đồng/m3.
Đối với các loại cát, cát vàng có mức thu 7.500 đồng/m3, cát trắng 10.500 đồng/m3, trong khi các loại cát khác được áp dụng mức 6.000 đồng/m3; cao lanh có mức thu 5.800 đồng/tấn...
Nghị quyết cũng quy định mức phí bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác tận thu khoáng sản bằng 60% mức thu của loại khoáng sản tương ứng.
Việc ban hành nghị quyết mới nhằm thống nhất chính sách thu phí bảo vệ môi trường trên địa bàn thành phố sau khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính, đồng thời bảo đảm phù hợp với các quy định của Luật Địa chất và Khoáng sản năm 2024, Luật Bảo vệ môi trường và các văn bản hướng dẫn thi hành.
Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 29-6-2026 và thay thế các quy định trước đây của TPHCM, Bình Dương và Bà Rịa - Vũng Tàu trước khi thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính.