Ngân hàng “săn” vốn ngoại

Trong bối cảnh tín dụng tăng nhanh hơn huy động, thanh khoản hệ thống chịu áp lực và nhu cầu vốn trung hạn, dài hạn của nền kinh tế ngày càng lớn, nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) đang đẩy mạnh huy động vốn từ thị trường quốc tế. Đây được xem là giải pháp đa dạng hóa nguồn vốn, giảm áp lực huy động trong nước và tạo thêm dư địa mở rộng tín dụng.

Làn sóng huy động hàng tỷ USD

Từ đầu năm 2026 đến nay, nhiều NHTM liên tiếp hoàn tất hàng loạt thương vụ huy động vốn quốc tế quy mô lớn với tổng trị giá hàng tỷ USD. Nguồn vốn chủ yếu được dành cho tín dụng xanh, phát triển bền vững, tài trợ thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Cuối tháng 7, HDBank ký khoản vay hợp vốn quốc tế trị giá 721 triệu USD. Khoản vay do Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) và Standard Chartered đồng điều phối, cùng sự tham gia của 6 định chế tài chính quốc tế, sẽ được sử dụng để mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, nhất là doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ...

Trước đó, VPBank ký khoản vay hợp vốn liên kết bền vững trị giá 1,44 tỷ USD với sự tham gia của 15 định chế tài chính quốc tế nhằm mở rộng tín dụng xanh và tín dụng xã hội. Nam A Bank cũng vừa tham gia Chương trình Bảo lãnh tài trợ thương mại (TSCFP) của ADB, được cấp hạn mức 50 triệu USD cho hoạt động tài trợ thương mại. SeABank cũng nhận khoản vay 50 triệu USD từ Quỹ OPEC về Phát triển Quốc tế (OPEC Fund) để tài trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa cùng các dự án năng lượng tái tạo, công trình xanh và giao thông điện…

F4B.jpg
Lễ ký kết khoản vay xã hội hợp vốn quốc tế 721 triệu USD của HDBank vào cuối tháng 7.
ẢNH: MINH HUY

Làn sóng huy động vốn ngoại diễn ra trong bối cảnh huy động vốn trong nước có dấu hiệu chậm hơn tăng trưởng tín dụng. Theo thống kê của Chứng khoán ACBS, đến ngày 10-7, tín dụng toàn hệ thống tăng 7,91% so với đầu năm, trong khi huy động vốn chỉ tăng 6,07%. Chênh lệch giữa dư nợ cho vay và huy động lên khoảng 2,7 triệu tỷ đồng.

Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến nhiều ngân hàng điều chỉnh tăng lãi suất huy động vào cuối tháng 7, thậm chí vượt 9%/năm đối với một số kỳ hạn và điều kiện đặc biệt. Ông Trần Khải Hoàn, Tổng Giám đốc Nam A Bank, thông tin, nguồn vốn quốc tế góp phần duy trì mặt bằng lãi suất huy động ổn định, đồng thời bổ sung nguồn vốn trung hạn, dài hạn trong bối cảnh huy động trong nước gặp nhiều áp lực.

Theo TS Huỳnh Trung Minh, chuyên gia kinh tế, việc nhiều ngân hàng đẩy mạnh huy động vốn quốc tế là xu hướng tất yếu khi tín dụng tăng nhanh hơn huy động. Dù sau khi cộng chi phí phòng ngừa rủi ro tỷ giá, phí thu xếp và các chi phí liên quan, chi phí vốn quốc tế không thấp hơn đáng kể so với huy động trong nước, nguồn vốn này vẫn có lợi thế về quy mô lớn và kỳ hạn 3-5 năm - điều mà nguồn vốn tiền gửi trong nước còn hạn chế.

Thêm giải pháp hỗ trợ thanh khoản

Theo Ngân hàng Nhà nước (NHNN), khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là vốn ngắn hạn, trong khi vốn trung hạn và dài hạn chỉ chiếm khoảng 20%. Trong khi đó, nhu cầu vốn cho đầu tư hạ tầng, sản xuất, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh chủ yếu là vốn trung hạn và dài hạn, tạo áp lực lớn đến việc cân đối nguồn vốn của ngân hàng.

Để hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế từ 10% trở lên theo Nghị quyết 168/2026 của Chính phủ, NHNN vừa điều chỉnh tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi (LDR) từ 20% lên 50%, áp dụng từ ngày 1-8-2026 đến hết ngày 31-7-2028. Quy định này sẽ góp phần cải thiện thanh khoản và tạo thêm dư địa cân đối vốn cho các tổ chức tín dụng.

Theo chuyên gia Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), những giải pháp điều hành gần đây chỉ góp phần giảm áp lực thanh khoản trong ngắn hạn. Về dài hạn, đa dạng hóa nguồn vốn, trong đó có huy động vốn ngoại, vẫn là giải pháp quan trọng để nâng cao năng lực tài chính và đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế.

Trong khi đó, ông Nguyễn Quang Huy, CEO Khoa Tài chính - Ngân hàng, Đại học Nguyễn Trãi, nhận định, việc cho phép tính 50% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước vào nguồn vốn huy động khi xác định tỷ lệ dư nợ cho vay trên LDR sẽ tạo thêm dư địa tín dụng, cải thiện thanh khoản và giảm áp lực cạnh tranh huy động vốn.

Với quy mô tiền gửi Kho bạc Nhà nước tới hàng trăm ngàn tỷ đồng, việc điều chỉnh này có thể tạo thêm khả năng cung ứng tín dụng đáng kể. Dù vậy, đây không phải là biện pháp nới lỏng tiền tệ mà chỉ là điều chỉnh phương pháp đánh giá năng lực thanh khoản, nhằm nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bảo đảm an toàn hệ thống.

TS Nguyễn Trí Hiếu, chuyên gia tài chính - ngân hàng, lưu ý, về dài hạn, Việt Nam nên phát triển mạnh hơn thị trường trái phiếu doanh nghiệp và thị trường chứng khoán để giảm sự phụ thuộc quá lớn vào tín dụng ngân hàng, qua đó hình thành hệ thống dẫn vốn cân bằng và bền vững hơn cho nền kinh tế.

Theo văn bản gửi NHNN mới đây, Bộ Tài chính thông tin đã chỉ đạo Kho bạc Nhà nước duy trì số dư tiền gửi có kỳ hạn tại các NHTM ở mức xấp xỉ hạn mức tối đa cho phép. Hiện dư nợ tiền gửi có kỳ hạn đạt khoảng 740.000 tỷ đồng; dư nợ mua bán lại trái phiếu Chính phủ khoảng 40.000 tỷ đồng. Tổng nguồn vốn ngân quỹ nhà nước đang được điều tiết thông qua 2 kênh này đạt khoảng 780.000 tỷ đồng, góp phần hỗ trợ thanh khoản hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ

Tin cùng chuyên mục