Minh bạch chuỗi thông tin
Tại vùng trồng dưa lưới của Hợp tác xã TM-DV Phúc Lợi (phường Bình Minh, tỉnh Tây Ninh), các khâu từ chăm sóc, thu hoạch đến đưa sản phẩm ra thị trường đều được theo dõi chặt chẽ. Dưa lưới cũng là một trong những sản phẩm được Saigon Co.op phối hợp Trung tâm Mã số mã vạch quốc gia lựa chọn thí điểm truy xuất nguồn gốc.
Sự kiểm soát không dừng ở vùng trồng mà tiếp tục theo sản phẩm đến điểm bán. Tại siêu thị, chị Nguyễn Thu An (phường Chánh Hưng, TPHCM), dùng điện thoại quét mã QR để kiểm tra thông tin trước khi chọn mua. Chỉ với một thao tác, người mua có thể tiếp cận thông tin về nguồn gốc, lô hàng và hành trình sản phẩm từ nơi sản xuất đến hệ thống phân phối. Từ trải nghiệm này có thể thấy, giá trị của truy xuất không nằm ở chiếc tem QR mà ở dữ liệu phía sau. Khi thông tin về sản phẩm, lô hàng, vùng trồng, vùng nuôi và quá trình luân chuyển được chuẩn hóa, liên kết, NTD có thêm căn cứ lựa chọn, còn nhà bán lẻ có thể quản lý hàng hóa theo từng lô.
Biết sản phẩm được nuôi trồng ở đâu mới chỉ là khởi đầu, bởi chất lượng còn chịu tác động trong quá trình thu hoạch, sơ chế, bảo quản và vận chuyển. Vì vậy, truy xuất không chỉ trả lời hàng hóa “đến từ đâu”, mà còn cho biết đã đi qua những công đoạn nào và được kiểm soát ra sao trước khi lên quầy.
Ở góc độ sản xuất, yêu cầu minh bạch cũng đặt ra trách nhiệm cao hơn. Ông Phạm Ngọc Hải, Giám đốc Hợp tác xã TM-DV Phúc Lợi, cho rằng, truy xuất nguồn gốc là xu hướng tất yếu. Khi NTD có thể biết quá trình chăm sóc, thu hoạch, sơ chế, đóng gói, vận chuyển và bảo quản, nhà sản xuất phải quản lý dữ liệu chặt chẽ, bảo đảm mỗi công đoạn đều có thông tin chứng minh và kết nối với công đoạn tiếp theo.
Kiểm soát từ gốc
Sự cần thiết của truy xuất càng rõ khi tiêu chuẩn an toàn thực phẩm ngày càng khắt khe. Theo TS Ngô Xuân Nam, Phó Giám đốc Văn phòng SPS Việt Nam (cơ quan đầu mối quốc gia thực hiện các nghĩa vụ minh bạch hóa và là kênh thông tin chính thức giữa Việt Nam với Tổ chức Thương mại thế giới về các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động, thực vật - thuộc Bộ NN-MT), kinh nghiệm quản lý tại nhiều quốc gia cho thấy các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động, thực vật đang chuyển từ kiểm soát sản phẩm cuối cùng sang kiểm soát toàn bộ chuỗi sản xuất, sơ chế, chế biến, đóng gói, bảo quản và lưu thông. Các yêu cầu về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, chất ô nhiễm, vi sinh vật, kiểm dịch, chứng thư và truy xuất nguồn gốc cũng liên tục được cập nhật.
Với nông sản, dư lượng thuốc bảo vệ thực vật không được vượt mức giới hạn tối đa cho phép. Chỉ một chỉ số vượt ngưỡng có thể khiến cả lô hàng bị từ chối, trả về hoặc tiêu hủy; vi phạm lặp lại còn có nguy cơ bị tăng tần suất kiểm tra. Điều đó cho thấy chất lượng không chỉ cần bảo đảm mà ngày càng phải được chứng minh bằng dữ liệu.
Yêu cầu này không chỉ đặt ra với hàng xuất khẩu. Ở thị trường nội địa, NTD cần biết thực phẩm được sản xuất và kiểm soát ra sao. Đặc biệt với thực phẩm tươi sống, chất lượng có thể biến đổi trong quá trình bảo quản, vận chuyển và phân phối, nên truy xuất phải gắn với kiểm soát an toàn xuyên suốt chuỗi.
Từ yêu cầu đó, Saigon Co.op ưu tiên thí điểm truy xuất với rau củ quả, trái cây, thủy hải sản. Theo ông Huỳnh Thanh Tuấn, Giám đốc Phòng Quản lý chất lượng Saigon Co.op, mục tiêu không chỉ là tuân thủ quy định mà quan trọng hơn là minh bạch thông tin, tăng khả năng kiểm soát chất lượng và sự an tâm của NTD. Vì vậy, truy xuất phải theo được hành trình hàng hóa từ nhà cung cấp qua lưu trữ, phân phối đến điểm bán.
Các nhà cung cấp tham gia thí điểm được cấp tài khoản, hướng dẫn chuẩn hóa dữ liệu về sản phẩm, lô hàng, vùng trồng, vùng nuôi và quá trình lưu chuyển. Một số đơn vị đã có hệ thống truy xuất riêng, có thể kết nối các nguồn dữ liệu thành chuỗi thông tin xuyên suốt. Nếu nhà sản xuất, nhà phân phối và cơ quan quản lý sử dụng các hệ thống riêng nhưng không liên thông, dữ liệu vẫn phân tán, NTD khó tiếp cận đầy đủ hành trình sản phẩm. Do đó, cùng với mở rộng truy xuất, cần chuẩn hóa dữ liệu và xác định trách nhiệm cập nhật của từng mắt xích.
Một mã QR vì thế chỉ thực sự có giá trị khi phía sau là dữ liệu đầy đủ, chính xác và có thể kiểm chứng. Khi đó, truy xuất nguồn gốc không còn là chiếc tem nhận diện mà trở thành “tấm hộ chiếu” của hàng hóa, góp phần tạo lập thị trường thực phẩm minh bạch, an toàn hơn.
Theo ông Huỳnh Thanh Tuấn, Giám đốc Phòng Quản lý chất lượng Saigon Co.op, Saigon Co.op đang triển khai trên cơ sở các tiêu chuẩn GS1, TCVN 12850:2019, TCVN 12827:2023 và hướng tới kết nối với Cổng Truy xuất nguồn gốc quốc gia. Khi dữ liệu được kết nối từ vùng sản xuất đến quầy hàng, nhà bán lẻ và cơ quan quản lý có thêm công cụ kiểm soát rủi ro, NTD có căn cứ kiểm tra trước khi lựa chọn.