Văn hóa và du lịch

Không phải vô cớ mà hầu hết các quốc gia có nền du lịch phát triển đều đưa ngành du lịch chịu sự quản lý của Bộ Văn hóa - Thông tin.

Đi chùa ngày Xuân

Và tất nhiên, du lịch là mảng thông tin vô cùng quan trọng trên các trang văn hóa của các cơ quan truyền thông nước ngoài. Bởi không cần giải thích thì ai cũng hiểu rằng khi một du khách đến du lịch ở một đất nước nào, điều họ muốn biết chính là nền văn hóa của đất nước đó.

Dù biết rõ du lịch là một ngành công nghiệp không khói, là chuyện doanh thu lời lỗ, nhưng trên sự tính toán lời lỗ ấy, phải hiểu động lực nào có khả năng níu giữ được trái tim người nước ngoài đến với đất nước mình và gây được những ấn tượng không quên để người ta không chỉ đến một lần…

Nhà cửa phố xá, xe cộ, vũ trường, quán bar và các nơi vui chơi giải trí là thứ có thể tìm thấy ở bất cứ quốc gia nào trên thế giới. Cảnh đẹp thiên nhiên là một trong những yếu tố quyến rũ du khách, nhưng nếu chỉ ngắm cảnh mà không biết cái gì ẩn chứa đằng sau nó thì cảnh ấy chỉ còn là xác mà thiếu mất phần hồn, không làm sao quyến rũ được lòng người. Chính cái hồn đó là văn hóa của một dân tộc, là những di sản ngàn năm, là nền nghệ thuật truyền thống, là nghệ thuật ẩm thực đặc trưng của từng quốc gia…

Nghĩa là tất cả những cái mà du khách không thể tìm thấy ở đâu trên đất nước họ. Và chính những nét mới lạ trong bầu không khí xưa cổ ấy mới có khả năng cuốn hút, mời gọi du khách. Cũng như bất cứ một quốc gia châu Á nào, Việt Nam khó thể cạnh tranh với Trung Quốc về di sản văn hóa đồ sộ của họ, nhưng mỗi dân tộc đều có nét đặc thù và du khách sẽ đến với chúng ta chính vì cái riêng ấy.

Tuy nhiên, chính chúng ta đã không biết giữ gìn cái riêng cho mình, ngay cả những gì ta có trong tay chứ không phải tạo dựng lên, ví như các cung điện, lăng tẩm ở Huế. Không so sánh với Tử cấm thành của Trung Quốc hay cung điện Versailles của Pháp, nhưng so với các nước lân cận, nếu biết giữ gìn thì Huế đâu có heo hút đến mủi lòng như hiện nay. Vì sao được sự hỗ trợ của UNESCO mà sự phục hồi của Huế ngày càng tang thương đến thế.

Người ta sử dụng tiền tôn tạo để nhuộm màu sắc sặc sỡ các cung điện như đình miếu, nhưng bên cạnh đó thì các “vườn thượng uyển” chỉ toàn cỏ dại và các hào thành thì bạt ngàn rau muống?! Có thể hiểu được tâm trạng của du khách khi đến Huế nếu như họ đã từng viếng thăm cố cung Kyongbokkung của Hàn Quốc hay cung điện Hoàng gia ở Thái Lan… Hàn Quốc đã biết giữ chân du khách bằng những chú lính gác thành trong trang phục cổ ngay từ cổng thành vào cung điện và những buổi thiết triều với đầy đủ vua quan như thật ở cố cung của họ, việc ấy có khó gì với ta, vì sao ta không làm được?

Tất cả những điều đó tựu trung là vì chúng ta đã làm du lịch mà không hề chú trọng đến yếu tố văn hóa. Cũng như trong các tour du lịch của Trung Quốc, Hàn Quốc và hầu hết các nước trên thế giới, bao giờ du khách cũng được tận hưởng một buổi tiệc trình diễn nghệ thuật truyền thống của họ.

Còn Việt Nam thì cứ ì ạch mãi, chỉ mỗi việc phúc khảo những trích đoạn tuồng, cải lương để đưa vào văn hóa du lịch mà mãi vẫn chưa xong. Chúng ta kêu gọi du khách đến với ta, nhưng chúng ta đã làm gì để níu chân họ lại? Câu hỏi ấy nhiều năm qua vẫn chưa có một lời đáp.

BÍCH CHÂU

 

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Áo dài trên phố trong Lễ hội Áo dài TPHCM 2020

Áo dài trong hành trình di sản

Việt Nam có 13 di sản được UNESCO công nhận Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại. Trong đó, 7 di sản là quan họ, ca trù, hát xoan, ví - giặm, nhã nhạc cung đình Huế, đờn ca tài tử, thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ đều sử dụng áo dài hoặc áo tứ thân khi biểu diễn. Hiếm có trang phục dân tộc nào góp phần vào quá trình tôn vinh Di sản văn hóa phi vật thể nhiều như áo dài.

Phim

Âm nhạc

Hồng Hải - “Người đàn bà hát” nồng nàn, da diết với nhạc Trịnh

Hơn 60 năm qua, đã có biết bao nhiêu người hát nhạc Trịnh. Mỗi người đến với Trịnh và hát Trịnh theo một cách khác nhau. Hồng Hải - người được yêu mến đặt cho cái tên "Người đàn bà hát" sau 20 năm đắm mình với nhạc xưa đã ra album đầu tay gồm 12 ca khúc được Trịnh Công Sơn viết trong 10 năm 1962 - 1972. Chặng đường mở ra bằng Hành hương trên đồi cao (1962) và khép lại bằng Vẫn nhớ cuộc đời (1972), đó cũng là một hành trình người nghệ sĩ đi tìm bản thể của mình.

Sân khấu

Sách và cuộc sống

Sáng tác

Mùa lũ

Tôi không sinh ra và lớn lên ở miền Trung, nơi hàng năm phải oằn mình gánh chịu bao nhiêu trận bão lũ. Nhưng, ký ức tuổi thơ tôi về một trận lụt duy nhất năm ấy đến nay chưa khi nào thôi ám ảnh. 

Mỹ thuật

“Màu dân tộc” trong những tác phẩm đương đại của họa sĩ Bùi Thanh Tâm

Hơn 20 tác phẩm khổ lớn, “khủng” nhất lên tới 450x210cm, nhỏ nhất cũng 120x180cm với chất liệu tổng hợp, triển lãm “Không có gì ở đằng sau” của họa sĩ trẻ đương đại Bùi Thanh Tâm tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam đã đem đến một cách tiếp cận, tôn vinh nghệ thuật dân gian đầy ấn tượng.