Boyhood - Hành trình tuổi thơ

Vượt qua ý nghĩa của một tác phẩm điện ảnh, Boyhood (tạm dịch là Thời niên thiếu) còn giống như một tấm gương phản chiếu mà mỗi người trong chúng ta ít hay nhiều đều thấy được phần nào của mình trong đó.
Boyhood - Hành trình tuổi thơ

Vượt qua ý nghĩa của một tác phẩm điện ảnh, Boyhood (tạm dịch là Thời niên thiếu) còn giống như một tấm gương phản chiếu mà mỗi người trong chúng ta ít hay nhiều đều thấy được phần nào của mình trong đó.

Nhân vật Mason cùng người cha trong phim

12 năm cho một tác phẩm điện ảnh

Tháng 5-2002, đạo diễn Richard Linklater quyết định thực hiện một tác phẩm điện ảnh trên chính quê hương của ông - thành phố Houston, Mỹ. Đó là một quyết định mạo hiểm bởi thời điểm ấy kịch bản phim chưa hoàn thành và ông chưa biết đặt tên cho tác phẩm của mình là gì. Tuy nhiên, trong đầu ông đã nhen nhóm kế hoạch phải tìm một êkíp để quay bộ phim ấy trong vòng 12 năm.

“Tôi muốn kể câu chuyện về mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái mà nhân vật trọng tâm là cậu con trai từ khi bước vào lớp 1 cho đến khi kết thúc trung học. Một thách thức không nhỏ là những đứa trẻ rồi sẽ thay đổi rất nhiều. Nhưng tôi sẵn sàng để thích ứng với bất kỳ điều gì” - đạo diễn chia sẻ. Và ý tưởng đó đã được IFC - nhà phát hành đầu tiên của bộ phim cam kết góp 200.000 USD mỗi năm hoặc 2,4 triệu USD suốt quá trình thực hiện. Cuối cùng, sau 12 năm, bộ phim được hoàn thành với kinh phí vẻn vẹn 4 triệu USD.

Êkíp của Boyhood có nhiều điều thú vị. Người đầu tiên được ông lựa chọn là Ellar Coltrane - cậu bé 7 tuổi, đảm nhận vai chính Mason trong phim. Các diễn viên tiếp theo được lựa chọn cũng rất tình cờ. Tuy nhiên, cả êkíp đoàn phim không một ai ký hợp đồng bởi thời gian làm phim kéo dài tận 12 năm. Cũng bởi phim bấm máy khi kịch bản chưa hoàn thành nên các thành viên đoàn phim cũng là những người tham gia vào quá trình sáng tạo kịch bản. Họ dựa trên chính những kinh nghiệm cuộc sống của mình để thổi hồn vào nhân vật, khiến nó chân thật và sống động hơn. Đơn cử như nhân vật cha của Mason dựa trên cuộc đời của đạo diễn và cha ông. Nhân vật người mẹ của Patricia Arquette được lấy nguyên mẫu từ mẹ của cô.

12 năm ròng rã nhưng Boyhood chỉ mất vẻn vẹn 39 ngày quay. Từ năm 2002, đều đặn mỗi năm êkíp đoàn phim dành ra vài ngày để thực hiện những phân đoạn tiếp theo cho bộ phim. Sau guồng quay ấy, họ trở lại với cuộc sống thường nhật của mình. Nhịp điệu đều đặn ấy cứ thế diễn ra cho đến khi phim hoàn thành. Điều may mắn là suốt 12 năm ấy, cả đoàn phim không bị gián đoạn hay có sự thay đổi nào về êkíp.

Được biết, trước khi quyết định đặt tên là Boyhood, phim từng được gọi là The Twelve-Year Project, The Twelve-Year Movie. Đặc biệt, giữa năm 2013, Linklater quyết định đặt tên phim là 12 Years. Tuy nhiên, vì những lo lắng trong việc trùng tên với 12 years a slave mà cuối cùng cái tên Boyhood đã ra đời.

Trang nhật ký cuộc đời bước lên màn ảnh rộng

12 năm cuộc đời của nhân vật chính Mason bắt đầu từ khi cậu bé học lớp 1, sống cùng mẹ Olivia (Patricia Arquette) và chị gái Samantha (Lorelei Linklater). Cha mẹ ly hôn, mẹ cậu đi bước nữa với Bill Welbrock (Marco Perella) - giáo sư của bà ở trường đại học. Nhưng cuộc hôn nhân ấy cũng không kéo dài được bao lâu khi Bill nghiện rượu, bạo hành với gia đình. Không lâu sau, mẹ của cậu kết hôn lần thứ 3 với sinh viên của bà - một cựu quân nhân chiến tranh. Tuy nhiên, mọi thứ cũng nhanh chóng kết thúc vì những bất hòa trong gia đình, đặc biệt khi hai chị em Mason đã khôn lớn.

Sự đổi thay mạnh mẽ của Mason khi cậu bắt đầu biết hút thuốc, uống rượu, có bạn gái và đặc biệt là đam mê với nhiếp ảnh. Khi Mason chia tay mối tình đầu cũng là lúc cậu hoàn thành bậc trung học để bắt đầu cuộc sống ở môi trường cao đẳng. Sau cuộc chia tay trong nước mắt với người mẹ, một chương mới trong cuộc đời Mason mở ra.

Điều thú vị ở Boyhood đó là phim không mang tính chất kể lể về cuộc đời của một con người trong suốt 12 năm. Trong trang nhật ký ấy, những bước ngoặt trong cuộc đời tạo nên tính cách của nhân vật chính được tô đậm. Khán giả dễ dàng bắt gặp những cung bậc cảm xúc: những trận cãi vã trong gia đình, những niềm vui lớn nhỏ, những rạn nứt, những hiểu lầm, cuộc nổi loạn ở tuổi vị thành niên, cảm xúc yêu đầu tiên, niềm hân hoan và sự thất vọng trong sự nghiệp.

Boyhood sau khi ra mắt khán giả Bắc Mỹ từ ngày 11-7-2014 đã có 60 giải thưởng điện ảnh lớn nhỏ và liên tiếp được vinh danh Phim hay nhất tại các giải thưởng: Quả cầu vàng,  BAFTA... và đang là ứng viên nặng ký tại Oscar 2015.

Gần 20 tờ báo, tạp chí uy tín đã bình chọn phim vào vị trí số 1 trong các phim hay nhất năm 2014. Trên tờ The New York Times, nhà phê bình Manohla Dargis gọi Boyhood là “kiểu mẫu của chủ nghĩa hiện thực trong điện ảnh”. Nhà phê bình Peter Travers của tạp chí danh tiếng Rolling Stone đánh giá đây là phim xuất sắc nhất năm.

Peter Bradshaw của The Guardian đánh giá đây là “một trong những phim xuất sắc nhất thập kỷ”. Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng chọn Boyhood là bộ phim yêu thích nhất trong năm của mình. Tính đến hết tháng 12-2014 doanh thu của phim đạt hơn 43 triệu USD.

HẢI DUY

Tin cùng chuyên mục