Trong khi đó, dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII), cấu phần thứ 2 của vốn đầu tư nước ngoài, chưa được nhìn nhận đúng vị trí trong chiến lược tổng thể. Do đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ra đời như một lời giải cho bài toán chuyển đổi mô hình tăng trưởng của 2 dòng vốn này.
Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), lũy kế đến ngày 31-12-2025 cả nước có 45.416 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký khoảng 529,6 tỷ USD; vốn thực hiện lũy kế đạt khoảng 350,22 tỷ USD, tương đương 66,1% tổng vốn đăng ký còn hiệu lực.
Thực tế, khu vực FDI đóng góp khoảng 20% GDP, hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, nhưng phần lớn dừng ở gia công, lắp ráp - giá trị gia tăng thấp; tỷ lệ nội địa hóa bình quân chỉ khoảng 30%; liên kết với doanh nghiệp trong nước và chuyển giao công nghệ hạn chế; chính sách ưu đãi nặng về thuế và đất đai, trong khi hạ tầng, nhân lực chất lượng cao chưa theo kịp; nhiều địa phương sàng lọc dự án chưa chặt, chạy theo quy mô vốn đăng ký hơn chất lượng…
Trong khi đó, danh mục FII cuối năm 2024 ước khoảng 50 tỷ USD; khối ngoại bán ròng 13 quý liên tiếp, hơn 80.000 tỷ đồng trong nửa đầu năm 2026. Thị trường chứng khoán vừa được FTSE Russell xác nhận đủ tiêu chí nâng hạng, hiệu lực dự kiến đến tháng 9-2026, có thể hút thêm 25-30 tỷ USD đến năm 2030. Dù vậy, xét lũy kế, FDI vẫn áp đảo FII, gấp khoảng 10 lần, chiếm hơn 90% tổng vốn đầu tư nước ngoài.
So với trước đây, Nghị quyết số 10-NQ/TW thể hiện sự thay đổi mang tính nền tảng. Thứ nhất, đo lường thành công bằng khả năng kết nối, lan tỏa công nghệ, thể hiện qua mục tiêu nội địa hóa 45%-50% và 10.000 doanh nghiệp vào chuỗi cung ứng FDI. Thứ hai, chuyển từ quản lý theo địa giới hành chính sang cụm ngành, chuỗi giá trị, khắc phục tình trạng địa phương cạnh tranh rời rạc.
Thứ ba, ưu đãi gắn với kết quả thực hiện thay vì đại trà theo thuế, đất đai, cùng cơ chế thí điểm thể chế vượt trội. Thứ tư, mở rộng phạm vi sang cả đầu tư gián tiếp, gắn với nâng hạng thị trường chứng khoán. Thứ năm, tầm nhìn dài hạn đến năm 2045, vượt khỏi một kỳ kế hoạch 5 năm, cho thấy đây là sự tái định vị chiến lược mang tính hệ thống…
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt ra những mục tiêu đến năm 2030: thu hút 200-300 tỷ USD vốn đăng ký, tương đương 40-50 tỷ USD mỗi năm; vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD; 75% dòng vốn được kỳ vọng đến từ nhiều nền kinh tế phát triển; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30% - đây là những tín hiệu cho thấy định hướng ưu tiên chất lượng đối tác hơn số lượng dự án.
Tầm nhìn xa đến năm 2045 còn đặt ra kỳ vọng FDI đóng góp khoảng 30% GDP, chiếm 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, cho thấy đây là một chiến lược dài hơi. Để thực hiện những mục tiêu rõ ràng này, việc nâng tỷ lệ nội địa hóa hay kéo doanh nghiệp trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu đòi hỏi năng lực nội tại của khu vực kinh tế tư nhân được nâng lên tương xứng. Việc cải thiện thể chế và môi trường đầu tư nên được thực hiện đồng bộ ở cấp Trung ương và địa phương, tránh tình trạng chính sách tốt trên giấy nhưng chậm đi vào thực tiễn.
Việt Nam đang chủ động định hình lại vị thế của mình trong bản đồ đầu tư toàn cầu, không còn là điểm đến chỉ dựa vào chi phí thấp mà hướng tới trở thành một mắt xích có giá trị gia tăng cao trong các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị công nghệ của thế giới.