Khi “điểm tựa” chính sách thúc đẩy bình đẳng giới

Dự thảo Thông tư mới của Bộ Y tế vừa đề xuất chính sách khen thưởng, hỗ trợ các gia đình sinh 2 con gái nhằm kéo giảm tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh. Kết hợp cùng các biện pháp khuyến khích sinh đủ 2 con, đề xuất này được kỳ vọng sẽ tiếp thêm động lực để phụ nữ an tâm sinh con, đồng thời lan tỏa mạnh mẽ thông điệp bình đẳng giới trong cộng đồng.

Hỗ trợ gia đình sinh 2 con gái

Trở lại TPHCM sau chuyến về quê Đắk Lắk dự đám cưới người thân, chị Nguyễn Thị Hàn Ni, 38 tuổi ở phường An Hội Đông, TPHCM, cho hay, chị nghe không ít lời trêu chọc về việc mình sinh 2 con gái. Nhiều người nói đùa rằng chị “không biết sinh con”, hay đốc thúc sinh thêm “để có con trai nối dõi”...

Kết hôn năm 33 tuổi, có 2 con gái, vợ chồng chị quyết định không sinh thêm để có điều kiện chăm lo tốt nhất, không quan trọng phải có con trai. Khi nghe đến đề xuất miễn, giảm học phí, bảo hiểm và khen thưởng gia đình sinh 2 con gái trong dự thảo, chị Ni rất phấn khởi vì theo chị, bất kể chính sách nào giúp giảm chi phí nuôi con đều đáng trân trọng.

“Gia đình tôi quan niệm con nào cũng là con, đều được nuôi dưỡng, yêu thương như nhau. Cho nên nếu Nhà nước khuyến sinh kết hợp lan tỏa thông điệp bình đẳng giới thì đề xuất hỗ trợ thêm cho gia đình sinh 2 con gái là hợp lý. Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ”, chị Ni nói thêm.

CN8 a.jpg
Gia đình chị Nguyễn Thị Hàn Ni trong chuyến du lịch hè. Ảnh: NVCC

Theo Cục Dân số (Bộ Y tế), Việt Nam đạt mức sinh thay thế (2,1 con/phụ nữ) giai đoạn 2006-2021, tạo điều kiện bước vào thời kỳ dân số vàng từ năm 2007. Tuy nhiên, mức sinh giảm còn 1,93 con/phụ nữ vào năm 2025, đã kéo theo xu hướng kết hôn muộn, sinh ít con và già hóa dân số. Cục Dân số dự báo nếu mức sinh tiếp tục duy trì thấp, Việt Nam sẽ kết thúc thời kỳ dân số vàng vào năm 2036 và bắt đầu tăng trưởng dân số âm từ năm 2051. Trong khi đó, Cục Thống kê cho rằng dân số vẫn tăng nhưng chậm dần, đạt đỉnh khoảng năm 2059 trước khi suy giảm. Ngoài mức sinh thấp, tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh tại một số nơi vẫn là vấn đề cần quan tâm.

Theo thống kê, năm 2025, tỷ số giới tính khi sinh vẫn ở mức 111 bé trai/100 bé gái, cao hơn đáng kể so với mức cân bằng tự nhiên. Chính phủ đặt mục tiêu đưa tỷ số giới tính khi sinh xuống dưới 109 bé trai/100 bé gái vào năm 2030 và dưới 107 vào năm 2035. Bộ Y tế cảnh báo nếu xu hướng tiếp diễn, có thể dư thừa khoảng 1,5 triệu nam giới trong độ tuổi kết hôn vào năm 2034 và 1,8 triệu vào năm 2059.

PGS-TS Nguyễn Đức Lộc, Viện trưởng Viện Nghiên cứu đời sống xã hội, cho biết, tâm lý coi trọng con trai, mong muốn có con trai để nối dõi từng tồn tại trong một bộ phận xã hội, dẫn đến những hệ lụy lâu dài đối với cơ cấu dân số. Các chính sách hỗ trợ gia đình sinh đủ 2 con, trong đó có đề xuất miễn, giảm học phí đối với gia đình sinh 2 con gái, không chỉ hướng đến việc hỗ trợ chi phí nuôi con mà còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, khẳng định giá trị bình đẳng của trẻ em gái và trẻ em trai. Theo chuyên gia, một đứa trẻ được sinh ra và lớn lên trong môi trường được quan tâm, chăm sóc chính là nguồn lực quan trọng cho tương lai. Vì vậy, việc đầu tư cho trẻ em, bất kể giới tính, cũng chính là đầu tư cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Cần hệ sinh thái hỗ trợ

Chị Trần Thanh Thủy, 35 tuổi, phường Cát Lái, TPHCM, có một con gái sắp lên 3 tuổi. Về kinh tế, tổng thu nhập của cả hai vợ chồng chị khoảng 40 triệu đồng/tháng. Sau khi trừ các chi phí sinh hoạt, học tập của con, vợ chồng vẫn để dành được một khoản nhất định. Không quá lo về kinh tế nhưng cả hai không định sinh con thêm bởi thiếu người thân phụ chăm sóc. Đồng thời, vì con gái đầu lòng thường xuyên bệnh vặt, ảnh hưởng đến sức khỏe, tinh thần nên cả hai ám ảnh việc sinh, nuôi con nhỏ. Ngoài ra, do từng nghỉ 2 năm để chăm con và đã rất chật vật khi quay lại, có được công việc với mức lương gần 25 triệu đồng/tháng như hiện tại, chị Thủy không muốn đánh đổi.

Theo nhiều chuyên gia, trong xã hội hiện đại, phụ nữ ngày càng tham gia mạnh mẽ vào thị trường lao động, đóng góp vào phát triển kinh tế nhưng đồng thời vẫn giữ vai trò quan trọng trong chăm sóc gia đình. Vì vậy, việc xây dựng chính sách khuyến sinh cần gắn với việc tạo điều kiện để phụ nữ có thể cân bằng giữa công việc và cuộc sống.

“Người phụ nữ sẽ mạnh dạn hơn khi họ cảm nhận được sự chia sẻ, được hỗ trợ và không phải một mình đảm nhận tất cả trách nhiệm chăm sóc gia đình”, PGS-TS Nguyễn Đức Lộc nhận định. Theo PGS-TS Nguyễn Đức Lộc, từ góc nhìn xã hội, việc hỗ trợ gia đình sinh 2 con gái còn góp phần thay đổi nhận thức về giá trị của trẻ em gái. Khi con gái được nhìn nhận bình đẳng, được đầu tư về giáo dục, chăm sóc sức khỏe và tạo cơ hội phát triển, áp lực phải có con trai trong gia đình sẽ từng bước giảm xuống. Đây cũng là yếu tố quan trọng trong việc giải quyết căn nguyên của mất cân bằng giới tính khi sinh, hướng đến một xã hội nơi mỗi đứa trẻ đều được chào đón và phát triển bình đẳng.

PGS-TS Nguyễn Đức Lộc cho rằng nhiều quốc gia có mức sinh thấp như Nhật Bản, Hàn Quốc đã triển khai đa dạng chính sách hỗ trợ sinh con nhưng kết quả chưa đạt như kỳ vọng. Điều này cho thấy bài toán dân số không chỉ liên quan đến tiền hỗ trợ mà còn gắn với những thay đổi trong đời sống xã hội. “Muốn giải quyết vấn đề gốc, cần quan tâm đến sinh kế, an sinh gia đình và những giá trị về gia đình trong xã hội hiện đại”, PGS-TS Nguyễn Đức Lộc phân tích. Việt Nam có thể nghiên cứu thêm các chính sách hỗ trợ dài hạn như giảm chi phí nuôi dạy trẻ, phát triển hệ thống chăm sóc trẻ, tạo điều kiện làm việc linh hoạt cho cha mẹ, đồng thời có những chính sách hỗ trợ phù hợp với nhóm gia đình có thu nhập thấp. Đặc biệt, trong bối cảnh giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, việc khuyến khích sinh đủ 2 con cần đi cùng với thông điệp mỗi đứa trẻ đều có giá trị, cần trân trọng, không nên chọn lựa, sàng lọc giới tính trẻ.

Các chính sách hỗ trợ khuyến sinh hiện nay là tín hiệu tích cực khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân số mới. Những hỗ trợ trực tiếp như học phí, chi phí nuôi con hay các chính sách ưu đãi khác có vai trò quan trọng trong việc giảm bớt một phần gánh nặng cho gia đình. Tuy nhiên, để tạo ra sự thay đổi lâu dài, cần nhìn rộng hơn vào các yếu tố tác động đến quyết định sinh con. Điều quan trọng là phải nhìn thấy những yếu tố về sinh kế, môi trường gia đình, điều kiện chăm sóc con cái để người phụ nữ cảm thấy an tâm khi sinh con.

- PGS-TS Nguyễn Đức Lộc-

Tin cùng chuyên mục