Người mua cần thông tin xác thực
Đứng trước “ma trận” hàng hóa trên thị trường hiện nay, thói quen của người tiêu dùng tại TPHCM đang có sự chuyển dịch rõ rệt. Không chỉ nhìn vào giá bán, thương hiệu hay hạn sử dụng đơn thuần như trước, người mua ngày càng khắt khe hơn trong việc “soi” nguồn gốc, đơn vị phân phối và dữ liệu đi kèm sản phẩm.
Chị Thanh Hằng, quản lý dự án Công ty TNHH ĐT-PTDV Gia Lộc (phường Tăng Nhơn Phú, TPHCM), chia sẻ, sau hàng loạt vụ việc liên quan đến thực phẩm giả và hàng giả bị phát hiện gần đây, chị đã kỹ tính hơn mỗi khi mua sắm. Với các mặt hàng dùng hàng ngày cho gia đình như thịt, cá, rau củ hay sữa, chị luôn ưu tiên những thương hiệu có thông tin minh bạch, dễ tra cứu thay vì đắn đo vài ngàn đồng chênh lệch giá. Tuy nhiên, theo chị Minh Phương, nhân viên bán hàng cho một công ty bất động sản tại phường Hiệp Bình, TPHCM, dù nhiều sản phẩm dán đầy mã vạch, tem chứng nhận nhưng khi quét vào thì chỉ ra một trang web giới thiệu chung chung, không có dữ liệu về lô hàng hay ngày thu hoạch. “Người mua cần thông tin thực sự có thể kiểm chứng khi cần, chứ không phải một chiếc mã dán cho có”, chị Phương bày tỏ.
Thực tế, tâm lý cảnh giác và sự khắt khe của người dân hoàn toàn có cơ sở khi đặt trong bức tranh tiêu dùng rộng lớn của TPHCM. Ông Nguyễn Quang Huy, Phó Chi cục trưởng Chi cục Quản lý thị trường TPHCM, cho biết, 8 tháng đầu năm 2026, lực lượng quản lý thị trường thành phố đã kiểm tra, xử lý 826 vụ vi phạm liên quan đến hàng giả, hàng lậu, không rõ nguồn gốc trên các nền tảng thương mại điện tử, mạng xã hội. Trong số này, có hơn 220.000 sản phẩm bị thu giữ với tổng trị giá gần 19 tỷ đồng và 7 vụ việc có dấu hiệu tội phạm đã được chuyển cơ quan điều tra.
“Đã đến lúc phương thức chống hàng giả phải chuyển từ phản ứng thụ động sang phòng ngừa từ sớm, từ xa. Nhà sản xuất phải chủ động bảo vệ thương hiệu, nhà phân phối phải siết chặt hóa đơn, chứng từ, sàn thương mại điện tử phải có trách nhiệm xác thực người bán và kiểm soát nguồn gốc hàng hóa từ đầu vào”, ông Nguyễn Quang Huy nhấn mạnh.
Quản lý “đường đi” của hàng hóa
Trước sự thay đổi trong hành vi người tiêu dùng, bà Lê Thị Tú Quỳnh, Giám đốc ngành hàng dinh dưỡng và sức khỏe Nestlé Việt Nam, cho biết, doanh nghiệp đã lựa chọn giải pháp đưa khả năng kiểm chứng đến từng đơn vị sản phẩm thông qua mã QR định danh, áp dụng cho mỗi sản phẩm. “Quét mã này, người mua có thể truy cập thẳng vào dữ liệu nguồn gốc, chất lượng lô hàng đó. Nestlé đồng thời cử nhân viên hướng dẫn người tiêu dùng cách tra cứu ngay tại các điểm bán truyền thống lẫn gian hàng trực tuyến”, bà Lê Thị Tú Quỳnh chia sẻ.
Ở khâu bán lẻ, tháng 8-2026, Saigon Co.op đã hợp tác với Trung tâm Mã số mã vạch quốc gia thí điểm hệ thống truy xuất nguồn gốc cho nhóm thực phẩm tươi sống. Trong giai đoạn đầu, Saigon Co.op triển khai áp dụng trên 5 mặt hàng là bưởi da xanh, dưa lưới, cải bó xôi, cà chua ngọc bích và cá thát lát.
Theo Saigon Co.op, điểm khác biệt của hệ thống là không dừng ở việc dán chiếc tem mà dữ liệu từ vùng nuôi trồng, nhật ký thu hoạch, sơ chế, đóng gói, vận chuyển logistics đến khi nhập kho, ra quầy kệ siêu thị đều được kết nối liên tục. Đây là bước đi quan trọng nhằm chuyển từ phương thức quản lý thông tin phân tán sang quản lý dữ liệu truy xuất có tính liên kết, đồng bộ và kiểm soát xuyên suốt chuỗi cung ứng. Đặc biệt, từ kết quả thí điểm, Saigon Co.op sẽ chuẩn hóa dữ liệu để mở rộng toàn hệ thống, sẵn sàng kết nối trực tiếp với Cổng truy xuất nguồn gốc quốc gia. “Sự an tâm và tin tưởng của khách hàng đối với hàng hóa tại Saigon Co.op là ưu tiên hàng đầu. Vì vậy, hệ thống truy xuất nguồn gốc sẽ góp phần khẳng định vai trò của Saigon Co.op trong việc cung ứng hàng hóa an toàn, minh bạch, phù hợp với xu hướng tiêu dùng hiện đại”, ông Huỳnh Thanh Tuấn, Giám đốc Phòng Quản lý chất lượng Saigon Co.op, nhấn mạnh.
Ông Lê Minh Hải, Phó Giám đốc Sở An toàn thực phẩm TPHCM, nhìn nhận, thiếu minh bạch về chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ không chỉ khiến người tiêu dùng thiếu căn cứ lựa chọn mà còn gây thiệt hại cho cơ sở đầu tư, sản xuất nghiêm túc, tạo sự cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường. Vì thế, thông tin sản phẩm phải trung thực, đầy đủ, thống nhất và dễ kiểm tra, đối chiếu. Nhà sản xuất, nhập khẩu phải chịu trách nhiệm về chất lượng, tính minh bạch của thông tin cung cấp và thực hiện tự kiểm tra, giám sát theo nội dung công bố.