Trịnh Công Sơn - một chữ Tâm

LTS: Tuần qua dư luận xôn xao bởi bài viết của họa sĩ Trịnh Cung, người bạn cũ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, được đăng trên một trang Web hải ngoại, nội dung có những chi tiết xúc phạm đến nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, làm tổn thương bao công chúng ngưỡng mộ người nhạc sĩ tài hoa này. Về vấn đề này, chúng tôi cũng nhận được nhiều ý kiến bức xúc của bạn đọc, trong đó nhiều người cho rằng, chưa nói đến thực hư của câu chuyện, nhưng khi viết về một người bạn đã khuất thì phải có trách nhiệm và hơn hết là cần có cái tâm. Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu 2 ý kiến rất đáng quan tâm của bạn đọc.

Trịnh Công Sơn không phải là một tượng đài bằng đá để có thể dựng lên và phá đi một cách dễ dàng. Nếu có, bức tượng đài đó chính là sự ngưỡng mộ và yêu quý của hàng triệu người trong nhiều thế hệ từ tuổi 20 đến tuổi cổ lai hy.

Suốt hơn nửa thế kỷ qua, sự ngưỡng mộ của công chúng dành cho anh không phải chỉ ở tài năng mà còn chính ở cái tâm… Vì thế, những sự xuyên tạc với giọng điệu đầy hằn học của một con người tự xưng là bạn thân một thời của anh chỉ làm cho những người yêu anh thêm thương và quý trọng anh hơn.

Thương, bởi anh sống với tất cả mọi người bằng tấm lòng anh có, bằng sự độ lượng chân thành và cả cảm thông. Trịnh Công Sơn là người sống và lớn lên ở chế độ Sài Gòn cũ, nên những mối quan hệ của anh chằng chịt với những người bạn phía bên này và phía bên kia: anh thân thiết với Ngô Kha, một chiến sĩ cách mạng và chịu ảnh hưởng ở Ngô Kha rất nhiều, nhưng anh cũng là bạn của Lưu Kim Cương - một sĩ quan quân đội chế độ cũ, và khi Cương chết anh làm nhạc thương Cương với tấm lòng của người bạn.

Cách mạng hiểu anh, hiểu sự chao đảo của một nghệ sĩ sống bằng trái tim nhạy cảm như anh, nên không ai đòi hỏi ở Trịnh Công Sơn sự quyết liệt một con đường cứu nước như Lưu Hữu Phước, Xuân Hồng… nhưng ai cũng hiểu anh là một người yêu nước.

Từ năm 1968, sau những rã rời kêu than cho một kiếp da vàng, cái gì đã thúc đẩy anh vùng dậy với những bài ca bão lửa trong “Kinh Việt Nam”. Đó là sự cảm nhận với “lòng mơ ước về một rạng đông cho đêm tối dài lâu”. Đúng hơn, khi anh hát những bài ca rực lửa ở Trường Đại học Văn khoa Huế: “Ta phải thấy hòa bình, ta phải thấy hòa bình. Hỡi anh em thân yêu cùng khắp đứng lên. Bước chân ta đi trong hồn nước bập bùng. Triệu trái tim người rộn ràng chờ triệu bước chân người cứ mãi tiến lên. Ta phải thấy. Ta phải thấy một ngày hòa bình rực sáng nơi đây” (Ta phải thấy mặt trời), ta thấy rất rõ anh không hề giấu giếm tình cảm với những người cách mạng.

Anh đã viết say sưa, hát say sưa bằng sự chân thành, thiết tha của trái tim sôi bỏng, đòi hòa bình của mình: “Đến trước từng căn nhà. Hỏi thăm từng anh lính. Mới về từ rừng xa. Em hãy đi cùng tôi. Đến trước từng căn nhà. Hỏi thăm từng người mẹ. Hỏi thăm từng người cha…” (Hãy đi cùng nhau). Anh đã viết với một giấc mơ hòa bình trong màu cờ đỏ tung bay như một bài ca cách mạng: “Ta đã thấy gì trong đêm nay. Cờ bay trăm ngọn cờ bay… Rừng núi loan tin đến mọi miền, gió hòa bình bay về muôn hướng…” (Ta đã thấy gì trong đêm nay).

Cho nên “kết án” Trịnh Công Sơn thân Cộng cũng đúng thôi, bởi những năm đó người trí thức chân chính nào không thiên tả, không thân cộng: Lý Chánh Trung, Nguyễn Ngọc Lan, Hồ Ngọc Nhuận, Lý Quí Chung, Ngô Công Đức, bà Ngô Bá Thành…

Bởi vì họ là người biết hơn ai hết chính quyền lúc đó chỉ là tay sai cho Mỹ, và bởi vì trong mỗi người đều biết rõ những người anh em trong rừng xanh kia chính là những người đã làm nên một Điện Biên Phủ vang dội toàn cầu. Và đó mới là chính nghĩa.

Vì thế, ở miền Nam vào những năm tháng ấy, nhân cách một người trí thức được thể hiện rạch ròi trên quan điểm yêu nước thiên tả và Trịnh Công Sơn đã đứng ở hàng ngũ ấy. Anh trốn lính vì anh không chấp nhận bắn vào những người anh ngưỡng mộ.

Bìa một album nhạc Trịnh Công Sơn.

Và chữ Tâm ấy đã xuyên suốt theo anh khi anh quyết định ở lại cùng đất nước, nếm trải gian lao và ít nhiều cay đắng. Tất nhiên, bởi làm sao tránh khỏi sự ghen ghét thường tình. Nhưng anh đã vượt lên tất cả để sống trung thực bằng tấm lòng của mình.

Anh viết bài “Ta cùng lên đường. Đi xây lại Việt Nam. Bàn chân ta đi mau, đi sâu vô tới rừng cao. Vác những cây rừng to, về nơi đây ta xây dựng nhà…” (Dựng lại người, dựng lại nhà). Đó cũng chính là hình ảnh của tuổi trẻ Việt Nam rầm rập lên đường năm 1976 với màu áo xanh của Thanh niên xung phong. Vì thế bài hát “Em ở nông trường, anh ra biên giới” là sự nhất quán từ xúc cảm chân thành của trái tim.

Bởi hình ảnh các cô gái nơi nông trường chính là hình tượng anh đã vẽ ra từ những năm thập niên 70 của thế kỷ trước, làm sao anh có thể quên được ánh mắt và nụ cười tươi vui của những cô gái Sài Gòn bỏ thành phố lên rừng sâu để dựng lại nhà trong một đêm lửa trại bập bùng ở nông trường Lê Minh Xuân. Anh đã hát suốt đêm ở đó, nhưng khi trở về Sài Gòn thì nghe tin các cô bị quân Pôn-Pốt thảm sát.

Với tình huống như vậy mà trái tim người nghệ sĩ có thể đập bình yên mới là lạ, anh đã khóc thương các em nhưng anh không muốn viết bi lụy bởi chính sức sống và nụ cười tươi trẻ của các em đã làm nên những nét nhạc reo vui.

Còn bài “Huyền thoại mẹ” chính là từ chuyến đi về Quảng Bình, nhìn thấy ảnh Mẹ Suốt chèo đò qua sông Nhật Lệ, nhìn mái tóc mẹ bay trong gió giữa trời xanh đã làm nên ý nhạc và lời ca tuyệt vời về hình tượng người Mẹ Việt Nam anh hùng.

Ca khúc được viết lên bằng sự xúc cảm chân thành của anh, nó rất nhất quán với hình ảnh người mẹ thường gặp trong ca khúc của anh, nhưng nó được nâng lên thành đỉnh cao nhất trong trái tim anh về hình ảnh người Mẹ Việt Nam: từ người mẹ chỉ đau khổ, khóc than đi tìm xác con đến người mẹ che chở cưu mang các con trong lửa đạn…

Nhạc Trịnh Công Sơn là sự xuyên suốt của cảm xúc, nó được ngân lên bằng tấm lòng, bằng trái tim của người nghệ sĩ. Và công chúng đã đón nhận anh, nhìn thấu hết chữ Tâm của anh trong từng lời ca, nốt nhạc

NGÔ NGỌC NGŨ LONG


Sự thật - nhìn từ tâm

Câu nhận định nổi tiếng: “Một nửa cái bánh mỳ là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật không phải là sự thật”, với hàm ý: những sự thật, dẫu là phũ phàng cũng cần phải được thông tin tới người đọc nay lại được nhiều người nhắc tới.

Trong bài viết nhỏ này, tôi xin phép không bàn về sự đúng - sai trong bài viết của họa sĩ Trịnh Cung, mà chỉ xin bày tỏ một số suy ngẫm của tôi xoay quanh vấn đề khai thác những chuyện “có thật” trong đời sống một số văn nghệ sĩ của ta từ trước tới nay, qua đó bày tỏ nhận thức rằng: ở một góc độ nào đó, đôi khi 100% sự thật vẫn chưa phải là sự thật.

Vì rằng, các sự kiện dù nhỏ bé thế nào, bao giờ cũng được xem là một lát cắt trong bức tranh muôn màu của cuộc sống. Nghĩa là, để hiểu đúng bản chất của nó, nhiều khi ta phải đặt nó trong mối tương quan với tổng thể. Các bậc thức giả dặn cháu con biết rộng để hiểu sâu có lẽ là như vậy.

Còn nhớ, cách đây hai chục năm, trong cuốn hồi ký văn học của mình, một nữ thi sĩ lão thành đã khiến độc giả giật mình bởi những chi tiết bà cung cấp đã cho họ thấy sự thô lậu trong khâu tỏ tình của một nam thi sĩ lừng danh.

Tất nhiên, chuyện chỉ hai người biết với nhau và nam thi sĩ được nhắc tới đã giã từ dương thế. Điều này khiến không ít độc giả cho rằng nữ thi sĩ viết vậy là bịa tạc, cốt để “đánh bóng” tên tuổi mình. Trong số những ý kiến phản đối đã được đăng tải trên các báo Trung ương và Hà Nội, tôi nhớ nhất lời nhận xét này: “Những điều bà X. viết có thể đúng trong thực tế nhưng không đúng trong cách tiếp nhận của người đọc hôm nay”.

Một nhận xét thật thấu tình đạt lý. Rõ ràng, khi sự thật không được đi kèm bằng chứng, thì việc người đọc phủ nhận nó để chỉ chấp nhận một sự thật đẹp đẽ, lãng mạn về nam thi sĩ nọ (theo như họ hình dung thấy khi đọc thơ ông) là một điều đương nhiên.

Từ câu chuyện trên, bất giác tôi lại nhớ tới bài chân dung văn học của nhà văn Tô Hoài, trong đó ông ghi lại một sự việc xảy ra thời chống Pháp: Có một vị khách trọ trên đường đi thị xã Thái Nguyên đã lên cơn sốt rét. May mà trong đám khách bộ hành, có ông khách tốt bụng sốt sắng thăm hỏi, rồi dằn xuống tiêm cho một mũi kinôphoóc. Và hẳn suốt đời ông không thể hay biết vị “cứu tinh” ấy chính là một nhà văn nổi danh trên văn đàn thời kỳ 1932-1945.

Bài viết dừng ở đấy, nhưng khi trò chuyện cùng tôi, lão nhà văn Tô Hoài đã không quên kể thêm phần “vĩ thanh”, ấy là chuyện ông nhà văn sau khi tiêm xong cho vị khách nọ đã không quên thu tiền thuốc cũng như tiền công.

Tôi hiểu, Tô Hoài không kể trắng phớ ra vậy không hẳn vì ông sợ mất tính thi vị của câu chuyện, mà cái chính là kể vậy chưa chắc bạn đọc đã tin, bởi trong tâm thế họ, đó là một nhà văn sống rất chân chất, nghĩa tình, là người mà họ hết mực tin yêu và không một ai có thể dễ dàng làm lung lay niềm tin ấy ở họ.
Vậy, ở đây, đâu mới là sự thật?

Trên thế giới, có lẽ hiếm ai viết về các văn nghệ sĩ với một tình thương mến như nhà văn Nga Pauxtốpxki. Nhiều thế hệ nhà văn Việt Nam, qua những trang sách đầy mê hoặc của ông đã bước vào con đường văn chương, sẵn sàng chấp nhận thua thiệt, trả giá. Tuy nhiên, đọc Pauxtốpxki, cũng có người than phiền ông viết về cuộc đời đẹp quá, thơ mộng quá, các nhân vật trong truyện của ông cao thượng, đáng yêu quá, trong khi thực tế không hiếm khi lại xảy ra theo chiều hướng ngược lại.

Sinh thời, Pauxtốpxki rất lấy làm ngưỡng mộ nhà viết truyện cổ tích Anđécxen. Ông từng nhận xét rằng Anđécxen là người có biệt tài tìm thấy trong cống rãnh những viên ngọc trai. Tôi nghĩ, với đối tượng phản ảnh là các nhà văn, nhà thơ, Pauxtốpxki cũng đã làm được những việc có ý nghĩa tương tự. Với cái nhìn thật nhân văn, ông đã tìm thấy trong cuộc đời dài dặc buồn thảm, thậm chí lầm lỗi của họ những khoảnh khắc thật thánh thiện. Và ông đã chớp lấy chúng để đưa vào trang sách. Với ông, đó mới đích thực là con người thật của họ, cái phần trong trẻo mà cuộc sống bụi bặm đã luôn tìm cách phủ lấp.

Phải chăng, đó mới chính là sự thật giúp độc giả hiểu đúng con người thật của các văn nghệ sĩ, những người đã từng chắt lọc tâm hồn mình để viết nên những tác phẩm tuyệt diệu mãi ngân vang trong tâm trí người đọc?

Phải chăng, chỉ bằng cái tâm của mình, ta mới nhìn ra sự thật ẩn khuất đâu đó trong mỗi con người. Và các sự kiện diễn ra trong cuộc sống luôn cần có những con mắt xanh mổ xẻ, phân tích, lý giải?

Trong “Truyện Kiều”, Nguyễn Du chẳng đã viết: “Lại đây xem lại cho gần/ Phỏng tin được một vài phần hay không”. Có những sự thật nhìn ở cự ly thật gần chưa phải đã là “chuẩn”.

Bởi vậy mới có chuyện, cách đây ít năm, mặc dù trong cuốn tự truyện của nghệ sĩ Lê Vân, chị nhất mực khẳng định “Tôi chịu trách nhiệm trước lương tâm và luật pháp về tính chân xác của những sự kiện, những câu chuyện được viện dẫn trong cuốn sách này”, song phụ thân của chị, NSND Trần Tiến lại cho rằng sự thật về ông “không phải như thế”.

Bởi vậy mà tôi vẫn nghĩ, không hiếm khi 100% sự thật chưa phải đã hoàn toàn là sự thật

PHẠM KHẢI 

Các tin, bài viết khác

Đọc nhiều nhất

Tối nay 13-6, truyền hình trực tiếp: Việt Nam - Khát vọng bình yên

Tối nay 13-6, truyền hình trực tiếp: Việt Nam - Khát vọng bình yên

Tối nay 13-6, Đài Truyền hình Việt Nam thực hiện chương trình truyền hình trực tiếp "Việt Nam - Khát vọng bình yên" trên kênh VTV1. Chương trình là sự lan tỏa của phong trào ủng hộ Quỹ vaccine phòng chống Covid-19 và lời cảm ơn đến những lực lượng đang ở tuyến đầu chống dịch.

Phim

Âm nhạc

Những giai điệu giãi bày

Giã từ tuổi học trò ở mái trường Phổ thông Năng khiếu, Võ Việt Phương (18 tuổi) mang theo hành trang hơn 30 ca khúc do mình sáng tác. Có những bài, Phương làm nhạc chỉn chu, có bài đã ra MV, và có những giai điệu Phương giữ cho riêng mình.

Sân khấu

Sách và cuộc sống

Lắng nghe thiên nhiên từ “Khúc hát của cây”

Sau Mùa xuân vắng lặng, Đời sống bí ẩn của cây, Niên lịch miền gió cát, Người trồng rừng…, mới đây Phương Nam Book vừa liên kết với NXB Thế giới ra mắt tác phẩm tiếp theo nằm trong tủ sách về đề tài môi trường. Đó là Khúc hát của cây của tác giả David George Haskell, do NY dịch.

Sáng tác

Vườn quê

Ồn ào
Vượt ra ngoài
Ồn ào
Bình yên
Vượt ra ngoài
Bình yên

Mỹ thuật

Hội họa không giãn cách

Nhiều hoạt động văn hóa - nghệ thuật và giải trí phải tạm gián đoạn do dịch bệnh. Nhưng với hội họa, việc giãn cách xã hội không phải là một cản trở. Sức hút từ những hội nhóm mua bán tranh và chia sẻ kiến thức mỹ thuật online càng phát huy hiệu quả trong việc kết nối cung - cầu.