Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước không chỉ là lời hiệu triệu toàn dân tộc đứng lên, mà còn khẳng định sức mạnh đại đoàn kết toàn dân và khát vọng thống nhất non sông.
Trong sự nghiệp cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nhấn mạnh: “Tự do cho đồng bào tôi, độc lập cho Tổ quốc tôi, đấy là tất cả những điều tôi muốn, đấy là tất cả những điều tôi hiểu”. Người luôn đau đáu một ước mong lớn nhất: Nước Việt Nam hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối, đồng bào Nam - Bắc sum họp một nhà.
Từ tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” đến chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” là một mạch tư tưởng nhất quán, xuyên suốt, thể hiện bản lĩnh, ý chí và tầm nhìn chiến lược của Người đối với vận mệnh dân tộc.
Trong tiến trình hiện thực hóa khát vọng thiêng liêng đó, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vị trí đặc biệt, không chỉ là chiến trường trọng điểm, nơi hội tụ tinh thần, ý chí đấu tranh cách mạng chống lại các thế lực phản cách mạng, mà còn là nơi ghi dấu thắng lợi trọn vẹn của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước vào mùa xuân năm 1975. Sau ngày đất nước thống nhất, Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục là một địa bàn tiêu biểu trong việc hiện thực hóa khát vọng xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Đánh giá vai trò của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình hiện thực hóa di nguyện, ước mong độc lập, thống nhất non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa tổng kết lịch sử, mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố hiện nay, qua đó đóng góp tích cực vào sự phát triển chung của cả nước.
1. Từ Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) đến Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (17-7-1966)
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (19-12-1946) ra đời trong bối cảnh nền độc lập non trẻ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đứng trước thách thức sống còn. Từ thực tiễn đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định rõ lập trường yêu chuộng hòa bình nhưng tuyệt đối không chấp nhận hòa bình trong nô lệ; nhân nhượng có nguyên tắc, không nhân nhượng trước mưu đồ xâm lược.
Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến chứa đựng những quan điểm cơ bản về tư tưởng, đường lối và phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đã khơi dậy ý chí bảo vệ độc lập dân tộc, phát động toàn dân đứng lên kháng chiến và đặt nền tảng cho đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mình là chính.
Tinh thần “bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc” đã khẳng định niềm tin tuyệt đối vào quần chúng nhân dân, vào sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Bài học “dân là gốc”, khơi dậy và phát huy sức mạnh toàn dân chính là một trong những giá trị cốt lõi của văn kiện lịch sử này.
Nếu Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến là lời hịch cứu nước trong buổi đầu bảo vệ nền độc lập vừa giành được, thì Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước (17-7-1966) là sự phát triển tư tưởng đó lên một tầm cao mới. Trong văn kiện này, Chủ tịch Hồ Chí Minh khái quát thành chân lý bất hủ: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do".
Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước đã vạch rõ bản chất phi nghĩa, tàn bạo của cuộc chiến tranh xâm lược do đế quốc Mỹ gây ra; đồng thời, khẳng định chính nghĩa, sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam, quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc, tiến tới thống nhất nước nhà.
Nhìn một cách tổng thể, Lời kêu gọi năm 1946 và năm 1966 có sự thống nhất về tư tưởng rất sâu sắc: Đó là sự thống nhất về ý chí bảo vệ độc lập dân tộc, khát vọng thống nhất Tổ quốc, về quan điểm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và về tinh thần tự chủ, tự lực, tự cường. Chính trên nền tảng đó, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã tiến hành thắng lợi cuộc kháng chiến chống ngoại xâm với thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” và Đại thắng mùa xuân 1975 với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử.
Trong tiến trình ấy, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh là một địa bàn đặc biệt, nơi ước mong độc lập, thống nhất non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hiện thực hóa bằng thắng lợi của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
2. Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định - Thành phố Hồ Chí Minh trong tiến trình hiện thực hóa ước mong độc lập, thống nhất non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 25-8-1945, nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định vùng lên giành chính quyền, góp phần quan trọng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Tuy nhiên, chỉ chưa đầy một tháng sau, ngày 23-9-1945, được quân Anh hậu thuẫn, thực dân Pháp đã nổ súng mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược nước ta lần thứ hai. Từ đó, Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định trở thành nơi khởi đầu cuộc kháng chiến ở Nam bộ, sớm đi vào cuộc chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ của dân tộc, trước khi cả nước bước vào Toàn quốc kháng chiến tháng 12-1946.
Là địa bàn mở đầu cuộc kháng chiến chống cuộc tái xâm lăng của thực dân Pháp, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã thể hiện tinh thần quật khởi, ý chí quyết chiến, quyết giữ vững nền độc lập vừa giành được của quân và dân ta. Tinh thần ấy sau này đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định trong Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến 19-12-1946: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”.
Trong suốt 9 năm kháng chiến chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, trong điều kiện vô cùng khó khăn, chiến đấu ngay giữa địa bàn đầu não của địch, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Sài Gòn - Chợ Lớn - Gia Định đã kiên cường đấu tranh góp phần cùng cả nước làm nên thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, kết thúc bằng Hiệp định Genève năm 1954.
Giai đoạn 1945-1954 là chặng mở đầu đặc biệt quan trọng trong quá trình Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố hiện thực hóa ước mong độc lập, thống nhất non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh, tạo nền tảng cho chặng đường tiếp theo của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sài Gòn - Gia Định là trung tâm đầu não chính trị, quân sự, kinh tế của chính quyền Sài Gòn; đồng thời là chiến trường trọng điểm có ý nghĩa quyết định đối với cục diện chiến trường miền Nam. Chính vì vậy, nơi đây trở thành một trong những địa bàn thể hiện tập trung nhất bản lĩnh cũng như ý chí giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước theo di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Đảng bộ Sài Gòn - Gia Định đã kiên cường bám dân, bám địa bàn, tổ chức và phát triển phong trào đấu tranh cách mạng trong điều kiện cực kỳ khó khăn, phức tạp. Từ công nhân, học sinh, sinh viên, trí thức đến đồng bào các giới, các tầng lớp nhân dân đều tham gia bằng những hình thức phong phú.
Đây là biểu hiện sinh động của việc phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc mà Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước đã khẳng định, tạo nên sức mạnh làm suy yếu bộ máy thống trị của địch, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ (“Chiến tranh đơn phương”, “Chiến tranh đặc biệt”, “Chiến tranh cục bộ”, “Việt Nam hóa chiến tranh”), là tiền đề quan trọng cho thắng lợi của cách mạng, đỉnh cao của quá trình ấy là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn - Gia Định ngày 30-4-1975, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hoàn thành sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.
Đó là thời khắc hiện thực hóa trọn vẹn ước mong lớn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh về một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Từ đây, Sài Gòn - Gia Định bước sang một trang sử mới với tên gọi Thành phố Hồ Chí Minh, mang theo vinh dự lớn lao và trách nhiệm lịch sử đặc biệt.
3. Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tiếp tục thực hiện ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng, bảo vệ và phát triển thành phố sau ngày đất nước thống nhất
Sau ngày 30-4-1975, đất nước thống nhất, non sông thu về một mối nhưng trước mắt là muôn vàn khó khăn: hậu quả chiến tranh nặng nề, kinh tế khó khăn, đời sống nhân dân thiếu thốn, bộ máy quản lý phải nhanh chóng được sắp xếp, củng cố.
Trong bối cảnh ấy, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã bước vào một chặng đường mới: từ nhiệm vụ giải phóng dân tộc chuyển sang hàn gắn vết thương chiến tranh, ổn định đời sống nhân dân, khôi phục sản xuất và xây dựng thành phố phát triển. Đây là bước tiếp nối rất quan trọng của việc thực hiện ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.
Trong công cuộc đổi mới đồng bộ, toàn diện, Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa phương đi đầu với tư duy năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Trong những năm qua, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân luôn phát huy truyền thống năng động, sáng tạo, đưa ra nhiều mô hình, phương thức hiệu quả trong quản lý, điều hành, phát triển kinh tế - xã hội của thành phố, đã đóng góp quan trọng vào thực tiễn đổi mới của cả nước.
Chính vì vậy, việc thực hiện trọn vẹn ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ dừng lại ở chiến thắng của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, mà còn ở quá trình đưa thành phố phát triển, trở thành đầu tàu kinh tế, trung tâm lớn về thương mại, dịch vụ, tài chính, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo và đổi mới sáng tạo của cả nước, đóng góp minh chứng thực tiễn sinh động về sự phát triển của nước ta trong 40 năm Đổi mới.
Nghị quyết 31-NQ/TW, ngày 30-12-2022 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ, thành phố tiếp tục là động lực, đầu tàu, dẫn dắt trong vai trò của một trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, văn hóa, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, giáo dục - đào tạo của vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước, là cửa ngõ quan trọng kết nối với khu vực và thế giới.
Đồng thời, việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 98/2023/QH15, Nghị quyết số 260/2025/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Hồ Chí Minh đã tiếp tục tạo thêm cơ sở thể chế để thành phố phát huy vai trò đầu tàu, với những cơ chế đột phá phục vụ phát triển nhanh và bền vững.
Đảng bộ, chính quyền và nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang nỗ lực hiện thực hóa ước mong của Người bằng việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cải thiện môi trường đầu tư, xây dựng hạ tầng, phát triển đô thị, chuyển đổi số, phát triển khoa học - công nghệ và khởi nghiệp đổi mới sáng tạo. Cùng với đó, trong quá trình lãnh đạo, Đảng bộ thành phố luôn gắn phát triển kinh tế - xã hội với tăng cường quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại và hội nhập quốc tế, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc, củng cố thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và đặc biệt là “thế trận lòng dân”.
Đây là bài học xuyên suốt được khẳng định từ Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước đến thực tiễn xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Là một địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng, Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ là trung tâm phát triển, mà còn là nơi phải giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ vững chắc thành quả độc lập, thống nhất trong mọi tình huống.
Thực hiện việc sắp xếp bộ máy của hệ thống chính trị, trên cơ sở hợp nhất với tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh hiện có quy mô của một siêu đô thị. Sau gần 1 năm vận hành, Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước ổn định bộ máy tổ chức, phát triển kinh tế - xã hội đạt được nhiều kết quả khả quan.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, quyết tâm thực hiện trọn vẹn ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là giữ vững chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, mà còn là giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, nâng cao nội lực, xây dựng năng lực tự chủ chiến lược.
Với yêu cầu tăng trưởng nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và khẳng định vị thế trên trường quốc tế, việc xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh với vai trò là nơi hội tụ tinh hoa đất nước, nơi khởi nguồn của nhiều sáng kiến đổi mới và khát vọng vươn lên trở thành một đô thị hiện đại của khu vực, dẫn dắt phát triển không chỉ bằng quy mô, tốc độ tăng trưởng mà còn bằng chất lượng thể chế, phương thức quản trị hiện đại và mô hình phát triển bền vững, bao trùm và sáng tạo có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, mang tầm chiến lược, lâu dài.
Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19 tháng 5 năm 2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới đã xác lập một tầm nhìn chiến lược, toàn diện và mang tính đột phá cho sự phát triển của thành phố trong nhiều thập niên tới và đặc biệt, hướng đến dấu mốc 100 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, năm 2075, đó là: xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị toàn cầu, thông minh, hiện đại, phát triển toàn diện, ngang tầm các đô thị phát triển trên thế giới, tăng trưởng xanh, bền vững, chất lượng cuộc sống cao, thích ứng tốt với biến đổi khí hậu; tiên phong hình thành mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh và kinh tế tri thức; đồng thời mở ra không gian phát triển mới với tư duy quy hoạch 100 năm, phát triển đa trung tâm, liên kết vùng, đô thị thông minh, thích ứng biến đổi khí hậu; cùng với đó là hệ thống cơ chế, chính sách vượt trội, đột phá, đặc biệt là xây dựng Luật Đô thị đặc biệt, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền triệt để để thành phố chủ động kiến tạo phát triển.
Nghị quyết cũng nhấn mạnh mục tiêu phát triển nhanh nhưng bền vững, lấy người dân là trung tâm, là chủ thể và là đối tượng thụ hưởng; tập trung nâng cao chất lượng sống, xây dựng thành phố văn minh, hiện đại, nghĩa tình, có môi trường sống tốt, an toàn, không ma túy, giữ vững quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị thật sự trong sạch, vững mạnh, ngang tầm nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.
Những định hướng này cho thấy, phát triển Thành phố Hồ Chí Minh hôm nay không chỉ là yêu cầu kinh tế, mà còn là yêu cầu chính trị và lịch sử: Thành phố mang tên Bác phải tiếp tục xứng đáng là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần tự chủ, tự cường và khát vọng vươn lên của dân tộc Việt Nam.
Từ những kết quả đã đạt được và những tiền đề nêu trên, chúng ta có thể vững tin ở sự đoàn kết, chung sức, đồng lòng của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố để tiếp tục viết tiếp những trang sử mới, hào hùng, phát triển trên thành phố mang tên Bác kính yêu.
Nhìn lại chặng đường chiến đấu, hy sinh, dựng xây và phát triển, chúng ta càng nhận thức sâu sắc hơn những giá trị cốt lõi được khẳng định trong Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến và Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tinh thần “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”; chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” đã, đang và sẽ tiếp tục là nguồn lực tinh thần to lớn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, đó là động lực để khơi dậy khát vọng phát triển, tiếp tục hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; phát huy truyền thống đoàn kết, năng động, nghĩa tình, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; tiên phong cùng cả nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Trong tiến trình hiện thực hóa ước mong độc lập, thống nhất non sông của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thành phố là nơi hội tụ của ý chí chiến đấu, trí tuệ, lòng quả cảm và sự hy sinh lớn lao; là địa bàn ghi dấu thắng lợi cuối cùng của sự nghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; đồng thời, tiếp tục gánh vác trách nhiệm đầu tàu trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ và phát triển Tổ quốc.
Ngày nay, thực hiện trọn vẹn ước mong của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh phát triển nhanh, bền vững, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; nâng cao đời sống nhân dân; tăng cường quốc phòng, an ninh; khẳng định vai trò đầu tàu, cực tăng trưởng và trung tâm đổi mới sáng tạo của cả nước. Đó chính là cách thiết thực nhất để thành phố mang tên Bác tiếp tục xứng đáng với niềm tin của Người, với kỳ vọng của Đảng, Nhà nước và nhân dân cả nước trong kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.