GÓP Ý DỰ THẢO LUẬT PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ

Lập “đường băng” thể chế để đô thị bứt phá

Dự thảo Luật Phát triển đô thị mở ra không gian tự quyết lớn hơn cho các đô thị lớn, nhưng để chính sách đi vào thực tiễn, nên nghiên cứu xây dựng một bộ máy đủ năng lực tiếp nhận, cụ thể hóa và tổ chức thực thi các thẩm quyền được trao.

Tăng tính chủ động trong quản lý

Dự thảo Luật Phát triển đô thị đang được trình Quốc hội đánh dấu một bước chuyển đáng chú ý trong tư duy lập pháp ở nước ta, thể hiện trên một số phương diện: chuyển từ tư duy “quản lý chặt” sang “kiến tạo phát triển” và phân hóa quản trị; tháo gỡ các “điểm nghẽn mang tính cấu trúc” của các đô thị lớn; cụ thể hóa chiến lược của Đảng, kích hoạt các cực tăng trưởng mới.

Dự thảo luật thể chế hóa trực tiếp Kết luận số 18-KL/TW và Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị; được kỳ vọng có thể trở thành đòn bẩy thúc đẩy các đô thị lớn tăng tốc, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số, tái tổ chức không gian phát triển theo hướng đa cực - tích hợp - kết nối và hình thành các cực tăng trưởng, khu kinh tế đặc biệt có sức cạnh tranh trong khu vực và trên thế giới.

M1f.jpg
Nhân viên công nghệ làm việc tại khu Campus công nghệ cao của FPT Softwave, Khu Công nghệ cao TPHCM. ẢNH: KHẢ HÂN

Dự thảo không chỉ đẩy mạnh phân quyền mà còn cho phép thành phố ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác với quy định của cơ quan nhà nước ở Trung ương trong một số trường hợp và thí điểm cơ chế, chính sách mới. Đây là bước đột phá lớn về thể chế, bởi mô hình phân quyền được mở rộng từ những cơ chế áp dụng cho một địa phương đặc thù (TP Hà Nội trong Luật Thủ đô) sang phạm vi rộng hơn, bao gồm đô thị loại đặc biệt, các thành phố khác và khu kinh tế đặc biệt.

Đột phá này thể hiện ở một số điểm đáng chú ý. Một là phân quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật đặc thù. Theo đó, thể chế hóa Nghị quyết số 09-NQ/TW của Bộ Chính trị, cho phép HĐND thành phố, UBND thành phố ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, nghị quyết của Quốc hội khác với quy định của Chính phủ, bộ, ngành hoặc khi chưa có quy định pháp luật điều chỉnh các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn.

Chính quyền thành phố có thể trực tiếp ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để tổ chức thực hiện, thay vì tiếp tục chờ các nghị định, thông tư hướng dẫn từ Trung ương như trước. Điều này sẽ rút ngắn đáng kể thời gian đưa chính sách vào cuộc sống, tăng tính chủ động trong quản lý và đẩy nhanh tiến độ triển khai các dự án phát triển.

Hai là cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox). Qua đó, thành phố được chủ động thí điểm các cơ chế, chính sách mới, mở ra khả năng thử nghiệm những mô hình phát triển mới trong các lĩnh vực như kinh tế số, tài sản số, trí tuệ nhân tạo, tài chính, kinh tế đêm, nông nghiệp giảm phát thải…

Ba là nguyên tắc ưu tiên áp dụng pháp luật. Dự thảo quy định trong trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật Phát triển đô thị và luật, nghị quyết khác của Quốc hội về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của Luật Phát triển đô thị, trừ các quy định thuộc lĩnh vực quốc phòng, an ninh; đồng thời HĐND thành phố được quyết định áp dụng cơ chế, chính sách ban hành sau nếu có ưu đãi hoặc thuận lợi hơn so với luật và văn bản thi hành luật.

Có thể xem đây là một “không gian tự quyết” hợp hiến, hợp pháp được cơ quan lập pháp mở ra để địa phương chủ động kiến tạo phát triển, qua đó góp phần hạn chế tâm lý thụ động, chờ đợi nghị định, thông tư hướng dẫn.

Vừa khuyến khích đổi mới, vừa kiểm soát quyền lực

Một điểm đáng chú ý khác là dự thảo Luật Phát triển đô thị đã thiết kế những “hàng rào” nhằm vừa khuyến khích đổi mới, vừa bảo đảm kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.

Thứ nhất, việc phân quyền phải phù hợp với Hiến pháp, điều ước quốc tế; không phương hại đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, chủ quyền quốc gia; bảo đảm quyền con người, quyền cơ bản của công dân, công bằng xã hội, ổn định kinh tế vĩ mô và an toàn tài chính quốc gia.

N3c.jpg
Người dân làm thủ tục hành chính tại Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Xuân Hòa, TPHCM ẢNH: KHẢ HÂN

Thứ hai, dự thảo thiết lập cơ chế kiểm soát quá trình xây dựng, ban hành văn bản. Trước khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật khác với quy định của cơ quan nhà nước ở Trung ương, thành phố phải đánh giá sự cần thiết, tính hợp lý, tác động của chính sách, dự kiến kết quả, cơ chế giám sát và trách nhiệm giải trình; lấy ý kiến các cơ quan, đối tượng chịu tác động và công khai nội dung tiếp thu, giải trình. Đặc biệt, dự thảo không cho phép sử dụng thủ tục rút gọn để ban hành các quy định này, trừ trường hợp tạm ngưng hoặc bãi bỏ văn bản.

Đối với chính sách thí điểm, văn bản nên xác định cụ thể mục tiêu, phạm vi, đối tượng, thời gian, địa bàn, kết quả dự kiến; thời gian thí điểm tối đa 5 năm và chỉ được gia hạn tối đa thêm 5 năm. Khi tác động tiêu cực vượt quá mức dự báo, UBND thành phố phải tạm dừng thí điểm và báo cáo HĐND thành phố xem xét, quyết định.

Thứ ba, về cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý văn bản, dự thảo quy định rõ trách nhiệm của từng cơ quan, đơn vị; đồng thời yêu cầu văn bản đặc thù phải được báo cáo cơ quan trung ương có thẩm quyền trong vòng 7 ngày, đánh giá hiệu quả sau 1 năm và công khai nội dung giải trình để người dân giám sát.

Thứ tư, cơ chế khuyến khích, bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung cũng được đặt trong tổng thể kiểm soát quyền lực. Quy định này được kỳ vọng góp phần khắc phục tâm lý né tránh, sợ trách nhiệm, tạo thêm sự an tâm để cán bộ, công chức chủ động đổi mới trong bối cảnh khoa học - công nghệ và thực tiễn quản trị đang thay đổi rất nhanh.

Nâng khả năng “hấp thụ chính sách”

Nếu được thông qua, khi luật được triển khai với nhiều thẩm quyền được trao cho HĐND, UBND và Chủ tịch UBND thành phố, khối lượng công việc đặt ra đối với chính quyền địa phương sẽ rất lớn. Nếu giữ nguyên bộ máy và nhân sự hiện tại, chính quyền thành phố có thể chịu áp lực lớn trong quá trình tổ chức thực hiện. Đơn cử, thẩm quyền của HĐND thành phố có nhiều thay đổi, đặt ra yêu cầu nghiên cứu điều chỉnh tổ chức bộ máy, số lượng các ban chuyên trách, tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách và nhân sự hỗ trợ hoạt động của HĐND thành phố.

Hiện TPHCM đang xây dựng khoảng 100 văn bản quy định chi tiết (gồm 70 nghị quyết của HĐND và 30 quyết định của UBND) để sẵn sàng ban hành và áp dụng ngay khi luật có hiệu lực. Sự chuẩn bị chủ động này sẽ giúp thành phố sớm chuyển hóa các cơ chế đặc thù thành nguồn lực phát triển. Tuy nhiên, thời gian qua TPHCM đã huy động tối đa nguồn lực, làm việc với cường độ cao để thực hiện nhiều mục tiêu lớn.

Về dài hạn, đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức khó có thể duy trì cường độ này liên tục mà vẫn bảo đảm đủ dư địa cho nghiên cứu, tham mưu, đề xuất những cơ chế, chính sách sát với thực tiễn.

Vì vậy, một trong những ưu tiên có thể xem xét ngay sau khi luật có hiệu lực là các cơ chế, chính sách đặc thù về tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính. Một bộ máy phù hợp cùng đội ngũ nhân sự chất lượng cao sẽ nâng khả năng “hấp thụ chính sách”, chuyển các thẩm quyền được trao thành kết quả phát triển cụ thể và bền vững. Nói cách khác, luật có thể mở rộng không gian và trao thêm quyền, nhưng để đô thị thực sự “cất cánh” còn cần một “đường băng” đủ vững về thể chế, bộ máy và năng lực thực thi.

Tin cùng chuyên mục