Nguy cơ ngộ độc rình rập
Theo Bộ Y tế, quý 1-2026, cả nước ghi nhận 36 vụ ngộ độc thực phẩm, tăng 20 vụ so với cùng kỳ năm trước. Đáng lưu ý, có 9 vụ quy mô lớn với trên 30 người mắc, chiếm khoảng 25%, cho thấy xu hướng các sự cố không chỉ nhiều hơn mà còn nghiêm trọng hơn về mức độ ảnh hưởng.
Tại TPHCM, dù các sự cố không xuất hiện dồn dập nhưng lại xảy ra theo cụm, quy mô lớn và khó truy vết nguồn gây nhiễm. Điển hình là vụ hàng trăm học sinh tại một trường tiểu học ở Bình Quới Tây (phường Bình Quới) nhập viện trong tháng 4 sau bữa ăn bán trú, nghi liên quan đến vi khuẩn Salmonella. Trước đó, một số ca nghi ngộ độc được ghi nhận tại bếp ăn công nghiệp, cho thấy rủi ro không chỉ nằm ở các quán ăn nhỏ lẻ mà đã lan vào cả những hệ thống cung ứng suất ăn tập trung.
Từ thực trạng nguy cơ ngộ độc thực phẩm, ông Đào Hà Trung, Chủ tịch Hội Công nghệ cao TPHCM, nhận xét, diễn biến này phản ánh “điểm mù” kéo dài trong quản lý chuỗi thực phẩm: nguyên liệu đầu vào - khâu chế biến - phân phối. Đáng nói, các vụ việc không còn đơn thuần là lỗi ở một khâu riêng lẻ, mà thường là kết quả của chuỗi sai sót tích tụ, từ nguồn nguyên liệu có nguy cơ nhiễm vi sinh, điều kiện bảo quản đến thời gian vận chuyển và phục vụ vượt ngưỡng an toàn. Theo ông Đào Hà Trung, với các mô hình phục vụ số đông như bếp ăn trường học hay suất ăn công nghiệp, chỉ một “điểm gãy” trong chuỗi cũng có thể kéo theo hàng chục, thậm chí hàng trăm người bị ảnh hưởng. Điều này đặt ra yêu cầu phải có sự quản lý, giám sát đồng bộ, từ sản xuất, phân phối cho đến khi sản phẩm lên bàn ăn.
Theo ông Nguyễn Nguyên Phương, Phó Giám đốc Sở Công thương TPHCM, với một đô thị hơn 14 triệu dân như TPHCM, việc kiểm soát an toàn thực phẩm trở nên phức tạp hơn. Nếu tiếp tục quản lý theo cách “đi tìm và xử lý vi phạm” khi sản phẩm đã lưu thông trên thị trường thì hiệu quả sẽ rất hạn chế, thậm chí giống như “thả gà ra vườn rồi mới đi bắt”. “Vấn đề cốt lõi nằm ở việc thị trường hiện nay tồn tại song song 2 nhóm: những doanh nghiệp làm ăn bài bản, tuân thủ quy chuẩn và nhóm sản xuất chạy theo giá rẻ, sẵn sàng bỏ qua tiêu chuẩn chất lượng. Khi thiếu cơ chế sàng lọc minh bạch, người tiêu dùng khó phân biệt, trong khi doanh nghiệp làm đúng gặp bất lợi trong cạnh tranh”, ông Nguyễn Nguyên Phương cho biết.
Quản lý đồng bộ từ sản xuất đến phân phối
Theo đại diện ngành công thương, yêu cầu đặt ra không chỉ là siết kiểm tra ở khâu cuối, mà phải chuyển sang kiểm soát từ đầu vào và xuyên suốt toàn bộ chuỗi - từ sản xuất, chế biến đến phân phối, nơi các hệ thống bán lẻ và kênh lưu thông đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc “lọc” sản phẩm trước khi đến tay người tiêu dùng. “Chúng tôi đã triển khai chương trình Tick xanh trách nhiệm hơn 1 năm nay và bước đầu ghi nhận kết quả tích cực. Tham gia chương trình này, các sản phẩm đều phải công khai, minh bạch quy trình sản xuất, truy xuất nguồn gốc và được kiểm tra, xác nhận trước khi đưa ra thị trường”, ông Nguyễn Nguyên Phương chia sẻ và nói thêm, khi có cơ chế sàng lọc rõ ràng, các hệ thống phân phối và người tiêu dùng sẽ cùng tham gia nhận diện, từ đó tạo áp lực thị trường buộc các đơn vị làm ăn thiếu trách nhiệm phải tự điều chỉnh hoặc bị đào thải.
Ở góc độ sản xuất, ông Lâm Ngọc Tuấn, Giám đốc HTX Tuấn Ngọc, cho rằng, khi đơn vị chủ động minh bạch nguồn nguyên liệu, quy trình canh tác và nâng cao trách nhiệm với sản phẩm của mình, thì không chỉ đáp ứng yêu cầu của hệ thống phân phối mà còn tạo được niềm tin bền vững với người tiêu dùng. “Chúng tôi đang cung cấp khoảng 1 tấn rau xanh mỗi ngày cho các hệ thống phân phối. Để duy trì đầu ra ổn định, điều quan trọng nhất không phải là giá, mà là chất lượng phải được kiểm soát đồng đều và truy xuất được”, ông Tuấn chia sẻ.
Ở khâu phân phối, Saigon Co.op giữ vai trò như một “bộ lọc” cuối của chuỗi cung ứng. Mỗi ngày, hệ thống bán lẻ này phục vụ khoảng 1 triệu lượt khách, vì vậy an toàn thực phẩm được xác định là tiêu chí cốt lõi trong toàn bộ hoạt động vận hành. Ông Dương Minh Quang, Phó Tổng giám đốc Saigon Co.op, cho biết, doanh nghiệp áp dụng quy trình thẩm định chặt chẽ đối với nhà cung cấp, ưu tiên đơn vị đạt các tiêu chuẩn như VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO. Mỗi năm, hệ thống thực hiện hơn 400 lượt đánh giá trực tiếp tại cơ sở sản xuất, kiểm nghiệm khoảng 26.000 mẫu tại phòng thí nghiệm nội bộ và hơn 2.800 mẫu tại các đơn vị độc lập. “Việc kiểm soát không dừng ở đầu vào mà được kéo dài đến tận điểm bán. Tại các siêu thị, đội ngũ QA/QC được bố trí thường trực, kết hợp thiết bị kiểm tra nhanh để giám sát điều kiện bảo quản, trưng bày và chất lượng hàng hóa từ khi tiếp nhận. Song song đó, doanh nghiệp còn tổ chức đào tạo, tập huấn cho nhà cung cấp nhằm nâng chuẩn toàn chuỗi, thay vì chỉ sàng lọc ở khâu cuối”, ông Dương Minh Quang nói. Bên cạnh áp dụng quy trình thẩm định chặt chẽ đối với nhà cung cấp, Saigon Co.op cũng là một trong những đơn vị tiên phong tham gia chương trình “Tick xanh trách nhiệm” do Sở Công thương TPHCM triển khai. Đến nay, hơn 100 nhà cung cấp đã cùng tham gia với trên 1.000 sản phẩm đạt chuẩn, qua đó góp phần tăng thêm một lớp sàng lọc chất lượng từ nhà cung cấp đến điểm bán.
Saigon Co.op triển khai Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2026
Saigon Co.op vừa phát động triển khai Tháng hành động vì an toàn thực phẩm năm 2026 trên toàn hệ thống, trọng tâm tăng cường kiểm soát chất lượng, nâng cao năng lực tuân thủ và mở rộng phối hợp đa bên trong chuỗi cung ứng. Chương trình có sự tham gia của các cơ quan quản lý, đơn vị chuyên môn như Trung tâm Kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng 3 (QUATEST 3), Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng TPHCM cùng các trường đại học trên địa bàn, qua đó tăng cường kết nối giữa quản lý - đào tạo - doanh nghiệp trong công tác đảm bảo an toàn thực phẩm. Trong khuôn khổ này, Saigon Co.op triển khai 3 nhóm hoạt động chính gồm: đào tạo, cập nhật quy định pháp luật cho hệ thống và nhà cung cấp; phối hợp tổ chức hội thảo chuyên đề với cơ quan chuyên môn và trường đại học; tăng cường kiểm tra, hướng dẫn thực hiện điều kiện đảm bảo an toàn thực phẩm tại các điểm bán.