Đột phá đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược - Bài 3: Kỳ vọng các giải pháp đột phá

Khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo được xác định là một trong những động lực trung tâm cho sự phát triển của quốc gia. Trong đó, khoa học cơ bản không phải là lĩnh vực hàn lâm thuần túy, mà chính là bệ phóng then chốt để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, có khả năng làm chủ công nghệ lõi cho đất nước.

Đầu tư đúng mức

Theo PGS-TS Phan Thanh Bình, nguyên Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng Quốc hội, để hiện thực hóa mục tiêu đột phá về giáo dục đại học theo tinh thần Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, cần tập trung vào 2 vấn đề cấp bách là: chính sách tài chính và tự chủ đại học. Về tài chính, phải tính đúng, tính đủ chi phí đào tạo trên cơ sở nhà nước giữ vai trò chủ đạo; ngân sách cho giáo dục đại học cần được nâng lên và đảm bảo ưu tiên cho các ngành công nghệ mũi nhọn; khuyến khích mạnh mẽ hợp tác công - tư (nhà nước có thể đối ứng vốn cho các dự án nghiên cứu chung hoặc ưu đãi thuế cho doanh nghiệp đầu tư vào trường đại học); các chương trình tín dụng giáo dục linh hoạt là đòn bẩy giúp sinh viên và nhà trường phát triển bền vững.

Về tự chủ đại học, là điều kiện tiên quyết để các trường linh hoạt và sáng tạo. Kinh nghiệm từ Singapore hay Hàn Quốc cho thấy, tự chủ đi cùng trách nhiệm giải trình chính là nền tảng để đại học trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo; giúp nhà trường nuôi dưỡng tinh thần khoa học, tư duy phản biện và trách nhiệm công dân cho thế hệ trẻ. “Đầu tư nhà nước là nền tảng; tự chủ đại học là điều kiện; sự đồng hành của xã hội, đặc biệt thông qua hợp tác công - tư, xã hội hóa là động lực. Khi 3 yếu tố này được kết nối hài hòa, giáo dục đại học Việt Nam sẽ thật sự trở thành bệ phóng cho nguồn nhân lực công nghệ chiến lược của quốc gia”, PGS-TS Phan Thanh Bình nhấn mạnh.

&4A.jpg
Sinh viên Khoa Điện - Điện tử Trường ĐH Công nghệ và Kỹ thuật TPHCM học thực hành tại phòng thí nghiệm

Theo TS Thái Doãn Thanh, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TPHCM, giáo dục đại học chưa thực sự gắn với nhu cầu trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0. Trong khi các nước đã có chiến lược quốc gia từ sớm, đầu tư vào công nghệ nền như bán dẫn, giúp biến tài năng học thuật thành sản phẩm toàn cầu.

Theo Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị, trong tổng chi ngân sách nhà nước cho giáo dục (duy trì tối thiểu 20%), cần dành tối thiểu 3% tổng chi ngân sách cho giáo dục đại học. Điều này nhằm xây dựng hạ tầng nghiên cứu, thu hút giảng viên quốc tế (mục tiêu 2.000 người đến năm 2030) và tăng số công bố khoa học quốc tế. Để đạt được, cần tăng dần từ 2% năm 2026 lên 3% năm 2028, với cơ chế điều chỉnh linh hoạt dựa trên tăng trưởng GDP.

“Đầu tư cho giáo dục theo Nghị quyết 71 phải là đầu tư thông minh - không chỉ tăng số lượng mà tập trung chất lượng, gắn kết với phát triển kinh tế và có cơ chế thực thi quyết liệt để tránh “giấy tờ hóa”. Với Nghị quyết 71, tôi tin rằng đây sẽ là bước ngoặt, giúp Việt Nam có nguồn nhân lực dẫn dắt công nghệ chiến lược”, TS Thái Doãn Thanh khẳng định.

Hợp lực 3 nhà

Theo PGS-TS Vũ Hải Quân, Thứ trưởng Thường trực Bộ KH-CN, mô hình “xoắn ba nhà” (nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp) có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đây không chỉ là sự phối hợp đơn thuần, mà là cơ chế gắn kết thực chất, nơi ba bên cùng chia sẻ trách nhiệm và lợi ích vì mục tiêu chung: biến tri thức thành của cải vật chất và động lực phát triển đất nước.

Để mô hình này vận hành hiệu quả, có 3 yếu tố cốt lõi: nhận thức và cam kết chính trị, coi hợp tác 3 nhà là chiến lược quốc gia chứ không phải khẩu hiệu; cơ chế chính sách rõ ràng, đặc biệt về chia sẻ chi phí, lợi ích và quyền sở hữu trí tuệ; tự chủ đại học đi đôi với trách nhiệm giải trình, để các trường nâng cao năng lực quản trị và chủ động tham gia hợp tác. Đồng thời, cả ba thành tố phải xây dựng văn hóa tin cậy và chia sẻ, thay vì chỉ chăm lo lợi ích riêng lẻ.

Dẫn chứng thêm về hiệu quả của mô hình trên, PGS-TS Vũ Hải Quân cho rằng, đây không phải là mô hình chỉ dành cho các nước phát triển. Hàn Quốc đã lập Viện khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST) từ khi còn là nền kinh tế đang phát triển; Trung Quốc xây dựng các khu công nghệ cao gắn với đại học từ rất sớm, và chính nhờ đó mà họ bứt phá. Việt Nam hoàn toàn có thể triển khai, trước hết tại các đại học trọng điểm, với sự đồng hành chặt chẽ từ nhà nước và doanh nghiệp. Tóm lại, hợp tác 3 nhà là chìa khóa để khoa học cơ bản và ứng dụng song hành, để giáo dục gắn với sản xuất, kinh doanh và để tri thức trở thành động lực trực tiếp cho sự phát triển quốc gia.

Nhìn từ thực tế đầu tư cho nghiên cứu khoa học, TS Hoàng Ngọc Vinh, nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục chuyên nghiệp (Bộ GD-ĐT) cho rằng, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) của Việt Nam hiện còn quá thấp. Theo đánh giá của UNESCO, Việt Nam chi cho R&D chỉ khoảng 0,53% GDP, thấp hơn nhiều so với Hàn Quốc (4,8%), Israel (5,4%), Trung Quốc (2,4%). Đây là lý do đại học yếu về nghiên cứu, thiếu nguồn lực trực tiếp để nuôi đội ngũ và phòng thí nghiệm.

Cũng theo TS Hoàng Ngọc Vinh, kinh nghiệm quốc tế cho thấy, đầu tư công phải đi kèm cơ chế kéo vốn tư nhân. Singapore với quỹ A*STAR đã chứng minh 1USD công kéo được 1,5-2USD tư. Trung Quốc có Big Fund huy động hàng chục tỷ USD từ tư nhân. Việt Nam chưa có cơ chế mạnh để doanh nghiệp đầu tư R&D tại đại học. Do vậy, cần luật hóa chỉ tiêu: nâng chi cho R&D lên 1% GDP năm 2030, trong đó ít nhất 35% cho đại học, 20% từ doanh nghiệp.

Tam giác nhà nước - nhà trường - doanh nghiệp muốn thật sự vận hành cần một thiết chế điều phối có quyền lực, ngân sách và trách nhiệm giải trình. Hàn Quốc có Ủy ban quốc gia về Đổi mới; Đức có hội đồng Fraunhofer... Việt Nam chưa có cơ chế này, nên các bên hoạt động rời rạc.

Một giải pháp khả thi là phát triển các chợ công nghệ (Tech Market) ở cấp quốc gia và vùng. Đây là nơi hội tụ kết quả nghiên cứu, bằng sáng chế, nguyên mẫu và nhu cầu doanh nghiệp. Thông qua Tech Market, nhà khoa học có thể chào bán công nghệ, doanh nghiệp tìm giải pháp, nhà nước đo giá trị thị trường.

Dưới góc độ cơ sở đào tạo, PGS-TS Hoàng Minh Sơn, Giám đốc ĐHQG Hà Nội, cho rằng, sẽ không thể phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo một cách đột phá nếu không có nguồn nhân lực chất lượng cao, tài năng. Nhân lực tốt nghiệp các ngành STEM sẽ phục vụ được rất nhiều các ngành công nghiệp, nông nghiệp khác nhau như bán dẫn, đường sắt tốc độ cao, điện hạt nhân...

“Kể cả khi chúng ta cần phát triển một lĩnh vực công nghiệp nào đó, việc đào tạo chuyển đổi giữa nhân lực tốt nghiệp các ngành STEM để chuyên sâu vào những lĩnh vực đó cũng sẽ rất nhanh. Chúng ta sẽ có nhiều chương trình đào tạo về lĩnh vực công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học… Để tuyển sinh những ngành này, không gì thuyết phục bằng những thông tin về cơ hội việc làm, điều kiện học tập, các chế độ, chính sách về học bổng, học phí của các trường cũng như chính sách chung của nhà nước”, PGS-TS Hoàng Minh Sơn nói.

Theo các chuyên gia, Việt Nam cần số hóa toàn diện chợ công nghệ, tích hợp cơ sở dữ liệu sáng chế - tiêu chuẩn - chứng nhận, vận hành bởi đơn vị trung gian độc lập, có sự tham gia của hiệp hội ngành nghề. Điều này không chỉ giúp doanh nghiệp lớn, mà còn mở đường cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận công nghệ.

Song song đó, các tập đoàn công nghệ lớn như Viettel, VNPT, FPT… cần đi xa hơn vai trò khách hàng để trở thành nhà gieo mầm nhân tài. Đây là mô hình mà các tập đoàn Samsung, Huawei, TSMC đã thực hiện thành công, biến nhân tài thành tài sản chiến lược. Nếu doanh nghiệp Việt làm được sẽ vừa giải bài toán nhân lực của chính họ, vừa góp phần nuôi dưỡng chiến lược nhân lực quốc gia.

Tin cùng chuyên mục