Đột phá đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược - Bài 1: Điệp khúc “khát” nhân lực

LTS: Nghị quyết 57-NQ/TW của Bộ Chính trị (về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia) và Nghị quyết 71-NQ/TW (về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo) đã xác lập tư duy mới về phát triển khoa học - công nghệ đi cùng các chính sách đột phá về đào tạo và thu hút nhân tài.

Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn nhiều khó khăn, thách thức, đặc biệt là sự thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực trong các lĩnh vực chiến lược như vi mạch bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ sinh học. Báo SGGP khởi đăng loạt bài "Đột phá đào tạo nhân lực công nghệ chiến lược" nhằm góp phần cùng ngành giáo dục - đào tạo tìm lời giải cho những điểm nghẽn, tạo thêm nguồn lực phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Những thập niên gần đây, thế giới chứng kiến sự vươn lên mạnh mẽ của nhiều quốc gia ở châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc... nhờ vào chất lượng nguồn nhân lực, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Giai đoạn 2015-2025, Việt Nam luôn nằm trong tốp 10 thế giới về thành tích Olympic quốc tế ở các môn Toán, Vật lý, Hóa học, Sinh học… Thế nhưng, đến nay chúng ta vẫn chưa tận dụng hết tiềm lực sẵn có để làm chủ công nghệ lõi, công nghệ nền.

Cung chưa đủ cầu

Nghị quyết 71-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những trụ cột đặt mục tiêu bổ sung nguồn lực con người để hoàn thiện nền tảng phát triển đất nước. Nghị quyết đã chỉ ra thực trạng chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế, bệnh thành tích còn phổ biến, sự phân hóa vùng miền lớn, tự chủ đại học chưa thực chất, đời sống nhà giáo còn khó khăn... Việc nhận rõ những hạn chế, bất cập là tiền đề cho đổi mới căn bản, đưa giáo dục và đào tạo vào vị trí quốc sách hàng đầu, là tương lai, vận mệnh của dân tộc và nền tảng của sức cạnh tranh quốc gia.

Theo dự báo của Bộ KH-ĐT, đến năm 2030, Việt Nam cần khoảng 15.000 kỹ sư thiết kế, 35.000 kỹ sư làm việc trong các nhà máy sản xuất chip - bán dẫn, đồng thời sẽ tạo ra 154.000 việc làm gián tiếp, đóng góp 360.000 tỷ đồng vào GDP. Mặt khác, trong bối cảnh nước ta tập trung phát triển kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn, đòi hỏi phải có nguồn nhân lực có trình độ, kỹ năng đáp ứng yêu cầu của một số lĩnh vực công nghệ chiến lược như: vi mạch bán dẫn, AI, tự động hóa, công nghệ sinh học, năng lượng mới và vật liệu tiên tiến. Tuy nhiên, Việt Nam đang thiếu hụt đội ngũ nhân lực trong các lĩnh vực này.

$4c.jpg
Sinh viên ngành Công nghệ bán dẫn Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐHQG TPHCM) học thực hành tại phòng sạch

Cụ thể, ở lĩnh vực Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT), tổng số lao động khoảng 1,8 triệu người, chiếm gần 1,1% trong tổng số khoảng 51 triệu lao động. Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực cũng như so với nhiều nước phát triển, tỷ lệ này là khá thấp. Ngoài ra, lao động nước ta còn thiếu năng lực thực hành nghề nghiệp, còn yếu về khả năng giao tiếp, đặc biệt là giao tiếp bằng tiếng Anh.

Cả nước hiện có khoảng 300 chuyên gia về AI, mới đáp ứng được một phần nhu cầu của thị trường, dẫn đến những thách thức không nhỏ trong quá trình đưa AI vận hành trong nền kinh tế. Tương tự, ngành công nghiệp bán dẫn của Việt Nam đang trên đà phát triển, thu hút nhiều dự án đầu tư lớn từ các tập đoàn đa quốc gia, nhu cầu nhân lực khá lớn (cần khoảng 5.000-10.000 kỹ sư/năm), nhưng hiện nay khả năng đáp ứng chưa đến 20%.

Thống kê của Bộ GD-ĐT đến hết năm 2025, cả nước có khoảng 160 trường đại học có đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ nhưng chỉ có 1.400 sinh viên tốt nghiệp chuyên ngành vi mạch và khoảng 5.000 kỹ sư thiết kế chip. Một trong những ngành thu hút nguồn nhân lực công nghệ cao là Công nghệ sinh học đã có hơn 50 trường đại học trong cả nước triển khai đào tạo, với khoảng 5.500 sinh viên mỗi năm, nhưng cũng chưa đáp ứng được nhu cầu. Đội ngũ nhân lực công nghệ sinh học bao gồm những người được đào tạo chuyên sâu trong các ngành thuộc lĩnh vực khoa học sự sống, các ngành liên quan khác như kỹ thuật sinh học, kỹ thuật y sinh... luôn được quan tâm thu hút, tuyển dụng.

Trong báo cáo mới đây, Ngân hàng Thế giới đánh giá, nguồn cung nhân lực chuyên môn cao của Việt Nam hiện nay còn rất hạn chế, chưa đáp ứng đủ nhu cầu các ngành công nghiệp công nghệ, nhất là đội ngũ nhân lực nghiên cứu và phát triển sản phẩm, dịch vụ công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghệ bán dẫn.

Ngành công nghiệp công nghệ cao đòi hỏi tỷ lệ cao hơn lao động có trình độ đại học và được đào tạo trong các lĩnh vực STEM (khoa học, công nghệ, kỹ thuật và toán học), có thể cao gấp 2 lần so với các ngành nghề khác. Số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới cho thấy, tỷ lệ nhân lực đã qua đào tạo nghề hoặc đại học, sau đại học của Việt Nam là 13%, thấp hơn nhiều so với các quốc gia trong khu vực.

Tuyển sinh vẫn gặp khó

Theo báo cáo của Bộ GD-ĐT, trong giai đoạn 2019-2023, số sinh viên được tuyển mới vào các ngành STEM tăng trung bình xấp xỉ 10% mỗi năm, cao hơn so với mức tăng trưởng trung bình của tất cả ngành đào tạo (7%). Năm 2023, số sinh viên theo học đại học các ngành STEM đạt xấp xỉ 690.000, tính trên tổng số sinh viên đại học đạt tỷ lệ 31,4% và tính trên tổng dân số đạt 69 người/một vạn dân, tương đương mức trung bình khối Liên minh châu Âu.

$4a.jpg
Sinh viên Khoa điện tử Trường ĐH Công nghiệp TPHCM học thực hành tại Phòng thí nghiệm thông minh 4.0 (ẢNH: THANH HÙNG)

Tuy nhiên, con số này thấp hơn so với nhiều nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, đặc biệt là số sinh viên theo học các lĩnh vực thuộc khối khoa học cơ bản như: khoa học sự sống, khoa học tự nhiên, toán và thống kê… chỉ chiếm tỷ lệ xấp xỉ 1,5% (thấp hơn 4 lần so với Hàn Quốc, Singapore, Đức và mức trung bình của khối Liên minh châu Âu).

PGS-TS Nguyễn Thành Nam, Phó trưởng Khoa Sinh học, Trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia Hà Nội), nhìn nhận, đào tạo các ngành khoa học cơ bản đang đối mặt với nhiều thách thức, trong khi Chiến lược phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo đến năm 2030 xác định đây là nền tảng của kinh tế tri thức. Thực tế, nhiều ngành học khó tuyển sinh, chương trình nặng lý thuyết, thiếu gắn kết thực tiễn, trong khi cơ hội việc làm và thu nhập sau tốt nghiệp còn hạn chế. Do đó, các ngành khoa học cơ bản hiện nay có sức hút kém hơn so với những ngành có gắn công nghệ.

Trường ĐH Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐH Quốc gia TPHCM) là trường hợp điển hình cho thực tế trên. GS-TS Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng nhà trường, nêu thực tế: Nhiều ngành liên tục từ năm 2017 đến nay không tuyển đủ chỉ tiêu dù điểm đầu vào rất thấp. Trong đó, có nhiều ngành chỉ có vài thí sinh nhập học nhưng vẫn phải đào tạo vì đây là nhiệm vụ quốc gia. Cùng đó, hoạt động nghiên cứu của ngành khoa học cơ bản, nhất là khối ngành khoa học xã hội, còn nhiều hạn chế trong công bố quốc tế, do thiếu hụt giảng viên và cán bộ nghiên cứu khoa học.

Trong khi đó, ông Nguyễn Văn Chiến, Phó trưởng Ban Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược phát triển giáo dục (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam) nhấn mạnh, nhu cầu đào tạo và thu hút người học theo học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược ngày càng cấp thiết nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ. Nhiều ngành công nghệ mới, kỹ thuật cao như AI, dữ liệu lớn, công nghệ sinh học, vật liệu tiên tiến, kỹ thuật số... đang thiếu hụt nghiêm trọng nguồn nhân lực được đào tạo bài bản tại Việt Nam. Riêng nguồn nhân lực công nghệ thông tin, Việt Nam hiện thiếu khoảng 150.000 kỹ sư.

Theo thống kê trên hệ thống dữ liệu về đại học của Bộ GD-ĐT, năm học 2024-2025, cả nước có gần 94.000 giảng viên, trong đó trình độ giáo sư có 790 người; phó giáo sư - tiến sĩ có gần 6.200 người; tiến sĩ có khoảng 26.500; thạc sĩ có 54.067; cử nhân có 4.690 và trình độ khác là 1.693. Như vậy, trình độ giảng viên có học vị từ tiến sĩ trở lên mới đạt khoảng 28,2%, một tỷ lệ khá thấp so với nhiều quốc gia trong khu vực.

Trong khi đó, kết quả tuyển sinh sau đại học (cao học và nghiên cứu sinh), lực lượng trọng yếu dẫn dắt đột phá nghiên cứu, làm chủ công nghệ, đổi mới sáng tạo, cho thấy còn khá khiêm tốn. Cụ thể, nghiên cứu sinh có chỉ tiêu là 7.068 nhưng thực tuyển chỉ có 4.077 (đạt 57,68%); cao học có chỉ tiêu 68.652 nhưng chỉ tuyển được 43.785 (đạt 63,78%).

Tin cùng chuyên mục