Xóm guốc lặng thầm giữ nghề

Không còn cảnh nhộn nhịp như thuở hưng thịnh, xóm guốc (phường Thủ Dầu Một) giờ chỉ còn lác đác tiếng máy xẻ gỗ vang lên đều đều, chậm rãi. Âm thanh ấy, dẫu thưa thớt, vẫn đủ để gợi nhớ về một làng nghề trăm năm tuổi, nơi những đôi guốc mộc từng nuôi sống biết bao thế hệ người dân đất Thủ.

 Ông Nguyễn Văn Sụ (64 tuổi) tạo hình những đôi guốc thô
Ông Nguyễn Văn Sụ (64 tuổi) tạo hình những đôi guốc thô

Lộc cộc… đôi guốc mộc

Từ đường Võ Minh Đức, bảng chỉ dẫn xóm guốc lặng lẽ nằm bên con hẻm rợp bóng cây, dẫn vào không gian làng nghề giữa nhịp sống đô thị ngày càng hối hả. Những căn nhà san sát, xen lẫn vài xưởng gỗ giản dị nép mình sau tán lá. Mùa xuân về, xóm guốc không ồn ào, không náo nhiệt, nhưng vẫn âm thầm chuyển động theo nhịp riêng của nghề.

Tại cơ sở gia công guốc gỗ của bà Nguyễn Thị Nga trên đường Lý Tự Trọng, khu phố Phú Thọ 6, phường Thủ Dầu Một, khoảng sân trước nhà chất đầy những khúc gỗ xoan đang phơi mình dưới nắng. Gần 5 tấn gỗ được xếp gọn gàng, chờ đưa vào xưởng. Bên trong, ông Nguyễn Văn Sụ (64 tuổi) cùng người con trai hơn 30 tuổi cặm cụi bên máy cưa. Từng khúc gỗ được xẻ, lọng mặt, cắt bụng, dần thành hình những đôi guốc thô. Mùn cưa trắng xóa bay lấp lánh trong nắng sớm, phủ lên mái tóc hai cha con màu bạc đặc trưng của nghề.

Bà Nga năm nay 62 tuổi, đã có hơn 20 năm gắn bó với guốc mộc. Nghề làm guốc vốn là nghề truyền thống bên ngoại bà, truyền qua nhiều thế hệ. Khi ông bà ngoại qua đời, mẹ bà chuyển sang nghề khác, riêng bà quyết định nối nghiệp ông ngoại để giữ lại nghề của tổ tiên. “Guốc mộc không chỉ là kế sinh nhai mà còn là ký ức gia đình”, bà nói. Cơ sở của bà hiện chủ yếu dựa vào sức lao động người nhà: chồng và con trai là hai nhân công chính. Mỗi tuần, bà trả lương cho chồng và con khoảng 3 triệu đồng/người như những lao động bình thường. Người con trai đã có gia đình riêng, thu nhập từ nghề guốc là nguồn sống chính. “Làm nhiều thì ăn nhiều, làm ít thì ăn ít. Nghề không giàu nhưng đủ sống”, bà Nga chia sẻ.

Gỗ xoan được ưa chuộng vì nhẹ, bền, ít mối mọt, vân đẹp và có tính thẩm mỹ cao. Cơ sở của bà đảm nhận khâu gia công thô rồi bán lại cho các cơ sở mỹ nghệ sơn, vẽ hoàn thiện. Mỗi đôi guốc thô người lớn có giá khoảng 25.000 đồng, guốc trẻ em 5.000-7.000 đồng/đôi. Trung bình mỗi tháng, bà xuất 100-500 đôi cho các cơ sở tại TPHCM. “Guốc gỗ không phổ biến như giày dép hiện đại nên đầu ra bấp bênh. Chỉ dịp tết, rằm tháng Giêng hay mùa lễ hội thì đơn hàng mới tăng”, bà Nga trăn trở. Dẫu vậy, bà vẫn giữ nghề như giữ một phần căn cước gia đình giữa dòng chảy đổi thay.

Ký ức xóm nghề và khát vọng hồi sinh

Hiện cả xóm guốc Phú Thọ chỉ còn 7 hộ dân bám trụ với nghề. Trong số đó, cơ sở guốc gỗ mỹ nghệ Sáu Dẻo trên đường Lý Tự Trọng là một trong những nơi hiếm hoi còn thực hiện đầy đủ các công đoạn, từ xẻ gỗ thô đến hoàn thiện thành phẩm. Bước vào phòng khách của cơ sở, nhiều người không khỏi ấn tượng với kệ trưng bày hàng trăm đôi guốc đủ màu sắc, kiểu dáng. Từ guốc mộc mạc đến guốc sơn màu, vẽ hoa văn, kết hợp sơn mài, thêu tay, kết cườm… tất cả tạo nên bức tranh sinh động về sự sáng tạo của làng nghề.

Theo chị Nguyễn Thị Thanh Cần (46 tuổi), chủ cơ sở Sáu Dẻo, vài năm gần đây, thị hiếu người tiêu dùng có chuyển biến tích cực khi xu hướng thời trang gắn với giá trị truyền thống, thủ công quay trở lại, nhất là trong giới trẻ. “Trước đây guốc gỗ chủ yếu dành cho người lớn tuổi và trẻ em. Nay nhiều bạn trẻ, đặc biệt là gen Z, thích guốc mộc vì sự độc đáo, gần gũi thiên nhiên và dễ phối đồ”, chị Cần chia sẻ.

Ông Huỳnh Hữu Tâm, Trưởng khu phố Phú Thọ 6, cũng xuất thân từ gia đình làm guốc, làng nghề guốc mộc đã tồn tại hơn 100 năm. Hiện đã hơn 70 tuổi nhưng trong ký ức tuổi thơ của ông, tiếng cưa, tiếng đục luôn vang khắp xóm. Dù nay chỉ còn 7 hộ bám nghề, nhưng đó vẫn là những “đốm lửa” giữ hơi ấm cho làng nghề giữa vòng xoáy đô thị hóa. Ông mong nghề guốc gỗ sẽ hưng thịnh trở lại, để bà con có thêm động lực bám trụ, vừa mưu sinh, vừa gìn giữ nét văn hóa truyền thống của tổ tiên.

Mùa xuân ở xóm guốc không rộn ràng xe chở hàng vô ra, không đông đúc người qua lại. Nhưng trong từng nhịp máy cưa, từng lớp mùn cưa bay trong nắng sớm, vẫn âm ỉ một sức sống bền bỉ. Đó là sức sống của làng nghề trăm năm, của những con người lặng thầm giữ nghề giữa bao đổi thay mỗi độ xuân về.

Tin cùng chuyên mục